1639629493_pcr--vat-tu-tieu-hao

ỨNG DỤNG PCR TRỰC TIẾP TRONG NGHIÊN CỨU

1. Giới thiệu:

Kỹ thuật PCR là sự mô phỏng quá trình nhân gene diễn ra trong tế bào, dưới tác dụng của enzyme xúc tác. Do đó nói cách khác, môi trường tế bào cũng phù hợp với PCR. Ngày nay, với tiến bộ khoa học kỹ thuật, các enzyme và sinh phẩm cho PCR ngày càng đặc hiệu, đề kháng tốt với chất ức chế, hiệu suất cao và có khả năng đọc sửa.

Trên thực tế, những nhà nghiên cứu thực hiện kỹ thuật tái tổ hợp, biến nạp, tách dòng gene với plasmid và E.coli thường chấm một đầu que tăm nhọn lên khuẩn lạc và chuyển vào ống PCR, sau đó chạy phản ứng trực tiếp.

Trong nghiên cứu, nhu cầu phát hiện, đánh giá hệ gene của các quần thể nhỏ, các đột biến thể khảm, gene nhảy, các dòng tế bào có tiềm năng sản xuất cao… đòi hỏi cần PCR và phân tích gene tới từng tế bào đơn độc. Ứng dụng PCR trực tiếp từ tế bào có thể đáp ứng tính toàn vẹn, và đại diện từ những cá thể, quần thể nhỏ tế bào cần quan tâm.

Hình minh hoạ. PCR trong nghiên cứu

2. Ứng dụng PCR trực tiếp từ tế bào không qua xử lý

Việc ứng dụng này phù hợp với các dòng vi khuẩn, vi nấm, vi tảo, dòng tế bào tách từ động / thực vật. Các nhà nghiên cứu có thể chỉ ra chính xác các dòng có tiềm năng sản xuất, đề kháng bệnh, hoặc có ưu thế đặc biệt nào đó, mà không cần sử dụng lượng lớn để tách chiết ADN. Với lượng tế bào thuần đã biết, nhà nghiên cứu có thể pha loãng tới nồng độ 01 tế bào hay quần thể tế bào nhỏ cho mỗi phản ứng, chuyển trực tiếp vào ống PCR để tiến hành. Việc pha loãng tới hạn này cũng góp phần giảm thiểu các chất ức chế tiềm năng có trong dung dịch nuôi cấy. Phản ứng PCR luôn có giai đoạn bắt đầu bằng 94-98 0C, do đó tế bào ngay lập tức được biến tính và giải phóng ra ADN cho phản ứng. Như chúng ta đã biết, PCR cơ bản gồm 3 giai đoạn là biến tính, gắn mồi, kéo dài chuỗi. Trong đó thường các nhà nghiên cứu hay chú ý tới giai đoạn gắn mồi, với các điều chỉnh nhiệt độ đảm bảo độ nhạy và độ đặc hiệu. Tuy nhiên bước biến tính 94-98 0C có một vai trò chính yếu cần lưu tâm là: giãnmạch ADN, chuyển từ cấu hình liên kết không gian giữa các ADN với nhau, và với các protein, peptide, lipid còn tồn dư. Và vai trò này đóng luôn nhiệm vụ ly giải ADN từ nhân tế bào trong PCR trực tiếp, kèm theo tiêu hủy ribosome RNA, mRNA vốn kém bền nhiệt. Ngoài ra hiện nay các enzym cho PCR đều ở chế độ hot-start, do đó khi chưa có bước này, thì phản ứng hoàn toàn chưa diễn ra, đảm bảo duy trì độ đặc hiệu của phản ứng.

3. Ứng dụng PCR với các mẫu, tế bào xử lý đơn giản

Việc ứng dụng này thường được tiến hành với các mẫu mô có tính chất thô, nhưng thuần nhất ví dụ như tai hay đuôi chuột, móng hay chân lông, chồi mầm nuôi cấy mô thực vật. Có hai phương pháp là xử lý không có chất biến tính, và có bổ sung chất biến tính.
Xử lý không bổ sung chất biến tính: mẫu mô được cắt nhỏ, ngâm trong nước tinh khiết cho sinh học phân tử, hoặc dung dịch đệm như TE. Sau đó tiến hành biến tính bằng nhiệt 94-980C trong 15-30 phút, làm lạnh nhanh bằng đá bào hoặc 40C trong 15-20 phút, tiến hành ly tâm để lắng cặn và dùng dịch nổi cho PCR.

Xử lý có bổ sung chất biến tính: thường áp dụng với mẫu như sụn tai hay đuôi chuột, mẫu móng, cặn tế bào sau ly tâm. Mẫu được cắt nhỏ, ngâm trong dung dịch NaOH, và tiến hành biến tính 94-980C trong 15 phút, sau đó trung hòa pH bằng dung dịch đệm như TAE, làm lạnh và ly tâm. Các nhà nghiên cứu cũng có thể sử dụng proteinase K thay cho NaOH, ủ ở 37-550C trong 30 phút trở lên, sau đó biến nhiệt 94-980C trong 15-30 phút, làm lạnh và ly tâm. Cách này không cần sử dụng dung dịch trung hòa pH nhưng có thể gia tăng chi phí.

Hình minh họa. PCR trực tiếp từ tai hoặc đuôi chuột

Hình minh họa. Một số hướng nghiên cứu với PCR trực tiếp

4. Kiểm soát chất lượng PCR

Khi ứng dụng kỹ thuật này, các nhà nghiên cứu có thể nghi ngờ về chất lượng ADN, hoặc các chất ức chế. Trên thực tế, việc đo nồng độ ADN, hay đánh giá tạp chất với phương pháp này không khả thi.
Cách tiếp cận tối ưu ở đây là sử dụng kèm PCR gene nội chứng thường là house-keeping gene:
Vi khuẩn: recA, gyrA, rpoD, proC, gmk, rho, 16S, ftsz, secA
Vi nấm: ACT1, EF1, GAPDH, PGK1, RDN5.8, RDN18
Vi tảo và thực vật: GAPDH , 30S, 18S& 25S rRNA
Tế bào động vật: β-actin, GAPDH, RPL13A & RPL32 (60S ribosomal subunit)
Việc chạy kèm một phản ứng nội kiểm với house-keeping gene không chỉ đánh giá đúng khả năng sử dụng của mẫu, mà còn kiểm soát chất lượng của bộ sinh phẩm, loại trừ âm tính giả.

5. Các vật tư tiêu hao cần thiết cho PCR

Hình minh hoạ. Nghiên cứu PCR
Để phục vụ tốt cho nghiên cứu lĩnh vực sinh học phân tử nói chung và PCR nói riêng, TSI Hà Nội luôn sẵn sàng cung cấp các vật tư phục vụ PCR chất lượng cao mang thương hiệu Sarstedt với xuất xứ Đức. Tất cả các sản phẩm đều được chứng nhận ‘Kiểm tra hiệu suất PCR’ và đảm bảo không chứa DNA, không có DNase / RNase và không chứa chất ức chế PCR. Các vật tư chính bao gồm:
– Ống PCR, chuỗi 4 ống PCR, chuỗi 8 ống PCR,
– Khay PCR,
– Ống ly tâm – ống falcon 15ml, 50 ml
– Đầu côn đa dạng thể tích: 10ul- 1250ul,
– Ống eppendorf 0.5ml; 1ml; 1.5ml; 2ml,
– Khay lạnh PCR,
Và nhiều vật tư liên quan khác, chi tiết xem tại: Vật tư tiêu hao cho PCR và sinh học phân tử

1640167642_z3044569171145_2f883c96609b68405fd1780d39317abd.jp

Các loại thuốc nên có tại nhà cho F0 trong mùa dịch Covid-19

Trong đại dịch COVID-19, việc hiểu và tự chăm sóc sức khỏe rất quan trọng. Những loại thuốc mua ngoài hiệu thuốc mà không cần bác sĩ kê toa dưới đây có thể giúp bạn xử lý một số tình huống sức khỏe thông thường…

Thuốc hạ sốt

Các gia đình nên chuẩn bị cả thuốc hạ sốt cho người lớn và trẻ em, loại nên sử dụng là acetaminophen hay gọi là thuốc paracetamol. Thuốc hạ sốt này có rất nhiều dạng như uống, đặt hậu môn, gói bột pha nước… tùy thuộc vào lứa tuổi. Theo bác sĩ, với gia đình có trẻ em, nên chuẩn bị thuốc dạng bột để pha nước cho trẻ uống hoặc viên nang đặt hậu môn để dễ dàng hơn khi tiếp nhận thuốc. Chỉ cần thân nhiệt trên 38 độ C là có thể dùng thuốc.

Về liều lượng, hầu hết mọi người thường tự động uống 1-2 viên paracetamol khi mua, song đây chỉ là ước lượng. Bạn có thể tham khảo theo công thức đơn giản về liều dùng cho cả người lớn và trẻ em, đó là 10-15 mg cho một kg cân nặng, nhân với cân nặng của mỗi người. Ví dụ một người nặng 50 kg thì uống một viên 500 mg, người 75 kg có thể uống 2 viên 500 mg.
Uống cách nhau 4-6 tiếng, không thể uống quá nhiều, một ngày tối đa 5 lần. Bác sĩ lưu ý nếu không có triệu chứng thì không dùng paracetamol, vì thuốc chỉ có tác dụng làm hạ nhiệt độ, không có công hiệu dự phòng. Ngoài ra, chỉ uống khi nhiệt độ cơ thể trên 38 độ C. Một số phương pháp hạ sốt cơ học như mặc quần áo thoáng mát, tránh chùm chăn kín, lau người bằng nước thấp hơn nhiệt độ cơ thể 2 độ (ví dụ sốt 39 độ C thì lau người bằng nước ấm 37 độ C) sẽ giúp hạ sốt.

Thuốc xịt mũi họng rửa mũi rửa họng, thuốc nhỏ mắt

Người bị ho, chảy nước mũi, có thể rửa súc họng bằng nước muối sinh lý, không cần liều lượng cụ thể. Nên duy trì khoảng 3 lần một ngày, nhiều hơn có thể dùng 4-5 lần một ngày.
Các triệu chứng như ho chảy nước mũi là biểu hiện thông thường của Covid-19. Song, theo bác sĩ Ninh, không cần dùng thuốc giảm ho hoặc ức chế ho vì có thể khiến bạn không khạc được đờm trong phổi. Nếu dùng thuốc quá nhiều có thể không khạc được dịch tiết, gây hại đến cơ thể.

Thuốc chống dị ứng

Hiện nay có nhiều thuốc chống dị ứng khác nhau, phổ biến là loại có tên gốc loratadine hoặc desloratadin. Thuốc này có thể dễ dàng mua ở hiệu thuốc.


Thứ tư là thuốc dự phòng điều trị đau dạ dày, ví dụ thuốc ức chế ppi. Trong thời gian cách ly, nhiều người tâm lý căng thẳng nên có thể xuất hiện nguy cơ đau dạ dày, cần dự trữ để uống khi xuất hiện triệu chứng khó chịu, chưa đến mức nhập viện.

Thuốc trị táo bón

Táo bón là một triệu chứng khó chịu, nhất là trong lúc đại dịch. Táo bón thường do ít nước trong ruột, làm tăng độ cứng và giảm khả năng di chuyển của phân. Táo bón lâu dài gây ra nhiều tác dụng nguy hiểm như bệnh trĩ, tổn thương ruột, tính tình nóng nảy… Cách chữa táo bón nhanh nhất là uống nước kết hợp với ăn rau/trái cây nhiều.
Nếu triệu chứng táo bón vẫn còn, có thể uống thêm thuốc làm mềm phân hay thuốc kích thích đẩy phân ra ngoài.
Thuốc chữa táo bón có rất nhiều loại, từ nhẹ đến nặng. Nhưng chỉ nên dùng tại nhà loại nhẹ và vừa. Các loại thuốc táo bón nặng dùng không cẩn thận có thể dẫn đến mất nước, kiệt sức, hay mất cân bằng chất điện giải.
Các loại thuốc uống có thể dùng tại nhà là: Docusate làm mềm phân; psyllium tăng chất xơ; dầu mineral oil để dễ đi cầu…
Nếu táo bón mạn tính cần phải gặp bác sĩ để tìm ra nguyên nhân để có biện pháp điều trị phù hợp.

Thuốc ngủ

Giấc ngủ là nền móng của một hệ miễn dịch tốt. Khi chúng ta ngủ không được, chúng ta thấy mệt mỏi, khó chịu, làm việc kém, và dễ mắc bệnh do hệ miễn dịch yếu đi. Nhất là trong đại dịch, càng cần phải quan tâm đến giấc ngủ của mình. Khi mất ngủ, có thể dùng một trong các loại thuốc melatonin, valerian, benadryl…

Các thuốc này không gây nghiện nhưng chỉ nên dùng ngắn hạn.

Thuốc nhỏ mắt

Các bệnh về mắt như ngứa mắt, đỏ mắt do dị ứng, viêm nhiễm vi khuẩn, virus, hay khô mắt sẽ làm mắt khó chịu, nhất là khi làm việc bằng máy tính nhiều. Vì vậy, cần có sẵn trong nhà lọ nước mắt nhân tạo, giúp đôi mắt dịu hơn.
Thuốc nhỏ mắt dị ứng chứa ketotifen fumarate dùng điều trị tình trạng đỏ mắt, ngứa mắt, hay viêm sưng mắt.
Nên đi khám mắt ngay khi các triệu chứng về mắt không giảm hoặc tệ hơn.

Bên cạnh đó, các thuốc thiết yếu cho bệnh nhân huyết áp, tiểu đường, bệnh mạn tính, hen phế quản… phải đảm bảo có đủ thuốc đề phòng các tình huống khẩn cấp có thể xảy ra.

Thuốc kháng viêm và chống đông

Với nhóm thuốc kháng viêm và chống đông, bác sĩ Ninh lưu ý không dùng khi chưa có biểu hiện suy hô hấp. Bình thường, trạng thái nhịp thở là dưới 20 lần/phút ở người trưởng thành. Nếu đếm nhịp thở trên 25 lần/phút thì có nguy cơ khó thở, rõ ràng hơn nữa còn có tức ngực, khó thở, không thể nói dài, trọn vẹn một câu, đó là triệu chứng gợi ý suy hô hấp. Bạn có thể trang bị máy SpO2 cặp ở đầu ngón tay để đo cho chính xác. Bình thường SpO2 trên 96%, nếu ta chỉ hít thở khí thở. Nếu SpO2 dưới 95% là dấu hiệu suy hô hấp.
Các thuốc chống viêm, chống đông chỉ dành cho các bệnh nhân suy hô hấp, hàng đầu là dexamethasone. Ưu tiên sử dụng dexamethasone, có thể thay bằng methylprednisolone hoặc prednisolone nếu không có dexamethasone, đây là dòng thuốc chống viêm có thể dùng được.
Thuốc chống đông như rivaroxaban, apixaban, dabigatran. Trong các gói thuốc đã ghi rất rõ hàm lượng, liều lượng, cách dùng. Nếu tuân thủ đúng theo hướng dẫn, có thể đảm bảo an toàn trong dùng thuốc.
F0 điều trị tại nhà cần uống nhiều nước. Nước hỗ trợ giảm nhiệt độ cơ thể, không khuyến nghị uống nước lạnh hay nước đá. Có thể uống oresol, pha đúng tỷ lệ ghi trên bao bì gói. Lưu ý, việc pha đúng tỷ lệ là rất quan trọng, đảm bảo cân bằng nước điện giải.

Thuốc bổ

Theo bác sĩ, việc dùng thuốc bổ là cách để cung cấp thêm vi chất bình thường bị thiếu. Bản chất thuốc bổ sẽ cung cấp thêm vitamin, kẽm, khoáng chất. Bạn có thể sử dụng các loại multi-vitamin đa sinh tố để bổ sung chất thiếu hụt, hoặc vitamin B, C, D đều được khuyến nghị bổ sung miễn dịch cơ thể. Dù không măc Covid-19 cũng nên bổ sung multi-vitamin. Bên cạnh đó, cần bổ sung kẽm, sắt, canxi. Các loại này cũng đều có thuốc bổ sung dạng uống hoặc dạng siro. Với các bạn nhỏ có thể dùng loại keo nhai.
Bác sĩ lưu ý với thuốc bổ, có thể dùng khi chế độ ăn không cung cấp đủ. Tuy nhiên, không được dùng quá liều. Nếu dùng quá liều, không đúng thời điểm có thể gây ra tác dụng phụ nghiêm trọng. “Đừng nghĩ cứ uống thuốc nhiều là bổ, mà phải dùng hợp lý khoa học, đúng lúc”, bác sĩ cho biết.

Lưu ý sử dụng thuốc an toàn

– Những thuốc này tuy mua không cần kê đơn, nhưng vẫn có thể có tác dụng phụ nguy hiểm khi uống quá liều hay uống liên tục lâu dài. Ngoài ra những loại thuốc này có thể tương tác với các loại thuốc khác mà bạn đang uống, ảnh hưởng đến hiệu quả và tăng tác dụng phụ nguy hiểm.
– Cách tốt nhất là chỉ nên uống các loại thuốc này trong thời gian ngắn. Nếu tình trạng bệnh không giảm thì nên tìm cách gặp bác sĩ ngay. Nếu có những triệu chứng nguy hiểm cần liên hệ với y tế ngay lập tức.
– Tủ thuốc gia đình nên có số điện thoại của bác sĩ; các hướng dẫn sử dụng thuốc và phải cách xa tầm với của trẻ em.

Để phục vụ cho quá trình xét nghiệm máu và chẩn đoán sinh học phân tử, TSI Hà Nội cũng cung cấp một số vật tư tiêu hao vô trùng y tế, tủ bảo quản máu/tế bào cũng như máy ly tâm túi máu & ống máu & tế bào.
Vui lòng tham khảo tại:
Thông tin liên hệ:
Công ty Cổ phần TSI Hà Nội
Hotline: 024.3943.4753 – 024.3943.4752 – 0812.035.888( Zalo/ WhatsApp)
Email: marketing@tsivn.com.vn/sales@tsivn.com.vn
Website: https://tsivn.com.vn/

1640248687_untitled-design

Các lý do bạn nên lưu trữ tế bào gốc máu cuống rốn ở trẻ sơ sinh

Lưu trữ tế bào gốc được coi như là tấm thẻ bảo hiểm sinh học trọn đời, giúp con có thể được tiếp cận với các liệu pháp điều trị tế bào gốc hiện đại nhất trong tương lai.

1. Tế bào gốc máu cuống rốn được hiểu là gì?

Tế bào gốc là loại tế bào không chuyên biệt, có khả năng tự sinh sản bằng cách phân chia tế bào (tự nhân lên chính nó) và biệt hóa để phát triển thành một hoặc nhiều loại tế bào chuyên biệt khác nhau.

Máu dây rốn hay còn gọi là máu cuống rốn hoặc máu bánh nhau, là máu chảy trong tuần hoàn của thai nhi. Chúng có chức năng cung cấp chất bổ cho bào thai đang phát triển trong tử cung người mẹ. Lượng máu cuống rốn được thu thập là phần máu còn lại trong dây rốn và bánh nhau khi sản phụ sinh em bé. Máu cuống rốn có chứa nhiều loại tế bào gốc, trong đó chủ yếu là tế bào gốc tạo máu (Hematopoietic stem cells (HSCs). HSCs chịu trách nhiệm cho việc bổ sung máu và tái tạo hệ miễn dịch.

Trước đây, dây rốn và bánh nhau sau khi cắt rời khỏi em bé thì được xem như một loại rác thải y tế. Tuy nhiên ngày này, trước sự ra đời của nhiều phương pháp điều trị mới sử dụng tế bào gốc, máu cuống rốn sẽ được thu thập, xử lý, kiểm tra chất lượng và lưu trữ lại. Mục đích của việc lưu trữ tế bào gốc là phục vụ điều trị cho chính người sở hữu dây rốn đó hoặc các thành viên khác trong gia đình khi có vấn đề về sức khỏe.

2. Tại sao bạn nên lưu trữ tế bào gốc máu cuống rốn?

Ghép tế bào gốc đang được xem là một cuộc cách mạng trong y học giúp điều trị các bệnh hiểm nghèo, chính vì vậy hiện nay có rất nhiều bậc phụ huynh đã lưu lại tế bào gốc cho con vì đây được coi như là tấm thẻ bảo hiểm sinh học trọn đời, giúp con có thể được tiếp cận với các liệu pháp điều trị tế bào gốc hiện đại nhất trong tương lai.

Việc lưu trữ tế bào gốc máu cuống rốn của trẻ giúp bảo đảm sức khỏe của chính trẻ trong tương lai hoặc các thành viên khác trong gia đình. Đây là nguồn “Tế bào gốc trẻ”, có khả năng phù hợp miễn dịch cao phục vụ cho:
+ Điều trị bệnh cho chính đứa trẻ đó trong cả cuộc đời.
+ Điều trị bệnh cho người nhà (anh chị em, bố mẹ, ông bà,…) và cho cộng đồng người khi có chỉ số sinh học phù hợp.

Tế bào gốc máu cuống rốn là phao cứu sinh để điều trị nhiều bệnh, dựa trên khả năng biến đổi độc nhất vô nhị của tế bào gốc máu cuống rốn thành các loại tế bào máu.
Hiện nay, tế bào gốc từ máu cuống rốn có thể được sử dụng để điều trị nhiều loại ung thư máu, thay thế tủy xương và sửa chữa các rối loạn do di truyền. Một số bệnh lý thường được chỉ định điều trị bằng ghép tế bào gốc máu cuống rốn như: Bạch cầu cấp dòng lympho, bạch cầu cấp dòng tủy, bạch cầu mãn tính dòng tủy, hội chứng loạn sinh tủy, suy giảm miễn dịch kết hợp trầm trọng, thiếu máu Fanconi, suy tủy nặng, lymphoma Non-Hodgkin, bệnh Thalassemia, suy tủy dòng hồng cầu, thiếu máu hồng cầu liềm.

Tại Bệnh viện Sản Nhi tỉnh Phú Thọ, dịch vụ lưu trữ tế bào gốc được triển khai từ tháng 9/2020, đến nay đã thực hiện dịch vụ lưu trữ tế tế bào gốc cho 30 trẻ. Tế bào gốc có thể lấy được từ nhiều nguồn: máu ngoại vi, tủy xương, máu dây rốn… Do việc lưu trữ máu ngoại vi và tủy xương đòi hỏi kỹ thuật phức tạp có xâm lấn và tốn kém hơn nên tại Bệnh viện Sản Nhi tỉnh Phú Thọ máu dây rốn được ưu tiên sử dụng hơn.

Tại Bệnh viện Sản Nhi tỉnh Phú Thọ, khi có nhu cầu lưu trữ tế bào gốc cho trẻ, gia đình sản phụ sẽ được nhân viên y tế tư vấn hiểu về những lợi ích, ưu điểm, nhược điểm của phương pháp lấy tế bào gốc bằng máu dây rốn. Sau đó, bố mẹ được kiểm tra sức khỏe theo quy trình. Khi sản phụ chuyển dạ sẽ thông báo trước cho khoa, phòng để được chuẩn bị các điều kiện thu thập máu và máu sẽ được thu thập ngay sau khi em bé ra đời có kẹp cắt rốn. Lấy máu dây rốn không gây bất cứ nguy cơ hay tổn hại nào cho mẹ và bé (Có thể áp dụng với tất cả các sản phụ cả sinh thường và sinh mổ). Các hoạt động được thực hiện theo quy trình khép kín, chuyên nghiệp. Việc thu thập máu dây rốn được thực hiện chủ động, nhanh chóng trong điều kiện vô trùng, hạn chế tối đa các rủi ro trong quá trình thu thập và lưu trữ. Máu thu thập xong sẽ được chuyển về ngân hàng tế bào gốc của Viện Huyết học – Truyền máu Trung ương. Tế bào gốc của bé sẽ được lưu trữ bởi hệ thống hiện đại nhất thế giới, trong điều kiện nhiệt độ âm sâu (-196 độ).

Tế bào gốc đã mở ra một hướng điều trị tiềm năng cho ngành y học. Việc ứng dụng tế bào gốc sẽ đem lại nhiều cơ hội hơn trong điều trị bệnh lý phức tạp. Lưu giữ tế bào gốc dây rốn ngay từ bây giờ được xem là một biện pháp bảo đảm tương lai, sức khoẻ cho con, gia đình và giúp nhiều người có cơ hội điều trị tốt hơn.

3. Lưu trữ tế bào gốc máu cuống rốn như nào?

Ngân hàng máu cuống rốn của các bệnh viện lớn là nơi thực hiện lưu trữ tế bào gốc từ máu cuống rốn với công nghệ tiên tiến cùng quy trình thực hiện nghiêm ngặt, các mẫu tế bào gốc máu cuống rốn này được lưu trữ trong điều kiện tốt nhất và đảm bảo quyền riêng tư cho từng khách hàng.

Với hình thức lưu 1 mẫu và lưu 2 mẫu, thời gian lưu trữ máu cuống rốn tại ngân hàng máu thông thường được chỉ định tương ứng với các mốc như sau:
+ Lưu trữ máu cuống rốn thời hạn 1 năm;
+ Lưu trữ máu cuống rốn thời hạn 5 năm;
+ Lưu trữ máu cuống rốn thời hạn 10 năm;
+ Lưu trữ máu cuống rốn thời hạn 17 năm.

Việc thu gom máu cuống rốn cần được thực hiện theo quy trình khép kín, thuận lợi. Tế bào gốc máu cuống rốn cần được bảo quản tốt nhất trong môi trường Ni-tơ lỏng trong thời gian tối đa 18-20 năm hoặc tủ lạnh âm sâu bảo quản tế bào. Các thông số chất lượng mẫu tế bào gốc được xây dựng dựa trên tiêu chuẩn FDA – tiêu chuẩn hàng đầu thế giới được hầu hết các ngân hàng máu cuống rốn uy tín sử dụng.

Để phục vụ cho lưu trữ, ly tâm và nuôi cấy tế bào, TSI Hà Nội cũng cung cấp một số thiết bị & vật tư vô trùng bao gồm: tủ lạnh âm sâu bảo quản tế bào, máy ly tâm tế bào, vật tư nuôi cấy tế bào.
Vui lòng tham khảo tại:
Thông tin liên hệ:
Công ty Cổ phần TSI Hà Nội
Hotline: 024.3943.4753 – 024.3943.4752 – 0812.035.888( Zalo/ WhatsApp)
Email: marketing@tsivn.com.vn/sales@tsivn.com.vn
Website: https://tsivn.com.vn/

1640420880_z3053096292308_78742bf49ae78e1a808370c711f787b9.jp

Công nghệ chỉnh sửa gen CRISPR cas9 – ứng dụng trong chữa bệnh và điều trị ung thư

CRISPR-cas9 do Jennifer Doudna, Đại học California tại Berkeley, USA và Emmanuelle Charpentier, sinh ra tại Pháp, hiện nay làm việc tại Đại học Y khoa Hannover, Đức và Đại học Umea – Thụy Điển là hai nữ khoa học gia phát triển công cụ này.

CRISPR là viết tắt của cụm từ Clustered Regularly Interspaced Short Palindromic Repeats, bản chất là một nhóm chuỗi DNA tìm thấy trên bộ gen của sinh vật nhân nguyên thủy như vi khuẩn, cổ vi sinh vật.

1. Công nghệ chỉnh sửa gen CRISPR cas9 là gì?

Công nghệ chỉnh sửa gen CRISPR cas9 là một kỹ thuật tiên tiến trong sinh học phân tử và đã được xem là bước đột phá của kỹ thuật thao tác trên AND bộ gen. Các chuyên gia cho rằng nó sẽ làm thay đổi cuộc sống và có tiềm năng tạo ra một cuộc cách mạng trong y học, khoa học cơ bản và nông nghiệp.
Mặc dù kỹ thuật này được phát triển đầu tiên vào năm 2012, nhưng kể từ năm 2015, công nghệ CRISPR mới phát huy hiệu quả và bắt đầu làm biến đổi nền khoa học, đồng thời châm ngòi cho cuộc tranh luận công khai, làm cho nó trở thành tiến bộ khoa học xuất sắc nhất trong những năm vừa qua.
Công cụ chỉnh sửa gen gọi là CRISPR (nhóm các đoạn ngắn đối xứng lặp lại thường xuyên – clustered regularly interspaced short palindromic repeats) được lấy từ một protein của sinh vật nhân nguyên thủy như vi khuẩn, cổ vi sinh vật, cho phép các nhà khoa học cắt và dán các phần ADN cụ thể, mở đường cho các phương pháp điều trị hay chữa bệnh mới cho các bệnh di truyền.
Bộ CRISPR gồm 3 thành phần: Một bộ mã RNA bắt cặp đặc hiệu với phần đoạn gen đích cần sửa; một enzyme (bản chất là một protein được gọi là cas-protein làm trợ lý của CRISPR cas = CRISPR-associated); và một đoạn gen mẫu cần thay thế cho đoạn gen lỗi sẽ bị cắt bỏ.

2. Cơ chế chỉnh sửa gen của CRISPR:

Bước “tìm bạn”: bộ mã RNA tìm và bắt cặp với một mảnh DNA cần sửa.
Bước cắt bỏ đoạn lỗi: Men cas cắt bỏ đoạn lỗi trong DNA cần sửa.
Bước chèn ghép đoạn DNA mẫu: CRISPR chèn đoạn DNA thay thế đoạn lỗi đã bị cắt đi
Theo cơ chế tự sửa chữa của tế bào, đoạn DNA sau khi bị cắt sẽ được hàn gắn lại theo 2 con đường: con đường ghép nối không tương đồng (non-homologous end joing NHEJ và con đường sửa chữa tái tổ hợp tương đồng (homology directed repair – HDR). Con đường sửa chữa NHEJ sẽ tạo ra các đột biến mất hoặc mất nucleotide, trong khi con đường sửa chữa HDR sử dụng khuôn mẫu có trình tự tương đồng ở khớp nối nên bảo toàn được trình tự DNA. Thông qua cơ chế cắt và nối DNA này các nhà khoa học có thể thêm, xoá, thay đổi trình tự DNA trong hệ gen. Công cụ CRISPR được ví như một chiếc “kéo sinh học” giúp các nhà khoa học có thể dung làm “phẫu thuật phân tử” nhờ khả năng cắt một cách chính xác tại vị trí mong muốn và từ đó giúp chỉnh sửa hệ gen trong tế.

3. Ứng dụng của CRISPR:

Bác sĩ Lou Staudt gọi CRISPR-cas9 là một công nghệ biến hình, khi chúng ta biết được những phân tử truyền tín hiệu trong tế bào bị bất thường, chúng ta có thể nghĩ đến việc sửa gen sinh ra phân tử đó và có thể sản xuất thuốc chữa ung thư.
Lab của Bác sĩ Lou sử dụng CRISPR để xác định các phân tử có thể phát triển thành thuốc điều trị ung thư: lab thuộc trung tâm nghiên cứu ung thư thuộc viện ung thư quốc gia Hoa Kỳ (NCI) đang xây dựng thư viện gồm 9000 gen có khả năng phát triển thành thuốc (potentially druggable genes). Lab của ông đang tìm những gene cần thiết cho quá trình tăng sinh và sinh tồn của tế bào ung thư lympho, dùng CRISPR để có thể ức chế các gen gây tăng sinh và kích thích các gen gây chết tế bào theo chương trình hoạt động để kiểm soát tế bào ung thư.
CRISPR khác các công cụ sửa gen thế hệ cũ ở đặc điểm cơ bản là các công cụ sửa gen thế hệ cũ chỉ có thể ức chế hoạt động của gen bị sửa, còn CRISPR có cả khả năng đó và thêm khả năng có thể tăng cường hoạt động của gen được sửa.
CRISPR còn được dùng để hiểu quá trình một tế bào lành biến thành tế bào ung thư, tế bào ung thư tiến hóa để lẩn tránh hệ miễn dịch, kháng lại các biện pháp điều trị. CRISPR có thể giúp tìm và khóa gen trong tế bào ung thư tham gia cơ chế kháng thuốc, hoặc tăng nhạy cảm của tế bào ung thư với thuốc.
Chúng ta hình dung nếu dùng được CRISPR khóa gen gây kháng hóa chất và/hoặc xạ trị rồi dùng hóa chất/xạ trị với liều thấp hơn hiện nay vẫn có thể chữa khỏi ung thư với độc tính gần như không đáng kể? Hoặc, CRISPR có thể biết được trước cơ chế kháng thuốc điều trị, và loài người chủ động phát triển các thuốc tiếp theo sớm để quản lý bệnh ung thư chủ động hơn?
6/11/2019: hai bệnh nhân ung thư đầu tiên được thử nghiệm dùng CRISPR ( 01 bệnh nhân đa u tủy xương, 01 bệnh nhân ung thư mô mềm). Bs Edward Stadtmanuer thuộc Đại học Pennsylvania, nghiên cứu viên chính, giáo sư Trung tâm ung thư cho biết, nghiên cứu đang thử nghiệm chỉ đánh giá tính khả thi và an toàn của liệu pháp tế bào đã được biến đổi gen bằng công cụ CRISPR (CRISPR-generated gene cell) truyền cho bệnh nhân ung thư. CRISPR có thể biến đổi bộ gen tế bào miễn dịch trong cơ thể bệnh nhân ung thư thành siêu quyền lực, có “hỏa lực” mạnh để tấn công, tiêu diệt tế bào ung thư, tăng khả năng sinh sản cũng như thời gian sống trong cơ thể lâu hơn để tiêu diệt được nhiều tế bào ung thư hơn. Hàng trăm triệu tế bào miễn dịch đã được sửa gen này đóng vai trò là thuốc sống trong cơ thể bệnh nhân để tiêu diệt tế bào ung thư. Các bệnh nhân được truyền tế bào vào tháng 1,4,8 cho đến thời điểm báo cáo 11/2019 bệnh nhân không có triệu chứng đáng kể nào của tác dụng phụ. Bước tiếp theo của thử nghiệm đã được tiến hành trên 18 bệnh nhân ung thư (sẽ chọn ung thư hắc tố, ung thư mô mềm, hoặc đa u tủy xương). Laurie Zoloth – Nhà đạo đức học y-sinh thuộc Đại học Chicago, thành viên phản biện trong Hội đồng đạo đức y sinh của Viện sức khỏe quốc gia Hoa Kỳ (NIH) ủng hộ những thành công ban đầu của nghiên cứu và có lưu ý rằng “hãy tiến hành thử nghiệm một cách thận trọng trên nhóm nhỏ bệnh nhân và KHÔNG được phóng đại những thành tựu, phải nói đúng thực tế mà phương pháp này bộc lộ trên thực tế bệnh nhân thử nghiệm”.
Ngoài Đại học Pennsylvania, còn có khoảng 5-6 thử nghiệm dùng CRISPR để điều trị một số bệnh/rối loạn tại Châu Âu, Mỹ, Canada.
02 thử nghiệm đang được tiến hành bởi sự hợp tác của CRISPR Therapeutic of Cambridge, MA và Vertex Pharmaceuticals, MA, USA điều trị hai bệnh lý rối loạn huyết học là bệnh tế bào sickle (Sicle cell disease) và bệnh beta-thalassemia. Bệnh nhân beta-thalassemia đầu tiên được điều trị bằng áp dụng CRISPR tại Đức, bệnh nhân thứ 2 cũng tại Đức, các bệnh nhân sau tại London, Toronto…Những bệnh nhân bệnh tế bào Sickle cell sẽ được truyền tế bào đã sửa gen dùng CRISPR tại San Antonio, New York, Nashville.
Có 01 thử nghiệm nữa đang tiến hành để điều trị bệnh mù di truyền được tài trợ bởi công ty Editas Medicine at Boston, MA. Đây là thử nghiệm đầu tiên sử dụng CRISPR sửa gen ngay tại những tế bào vẫn đang nằm trong cơ thể người bệnh (các thử nghiệm trên bệnh nhân ung thư là lấy tế bào miễn dịch của bệnh nhân ra rồi sửa gen, sau đó truyền lại cho bệnh nhân, quá trình sửa gen được tiến hành trong phòng thí nghiệm).
Một số thử nghiệm điều trị ung thư khác đã và đang được tiến hành tại các trung tâm ung thư thuộc Texas, New York.
Trung Quốc ngấm ngầm dùng CRISPR thử nghiệm điều trị ung thư đã nhiều năm và chưa công bố bất cứ thông tin gì.

4. Mặt trái của CRISPR:

Cơ hội để lũng đoạn thao tác gen người ?

Đó chính là những hứa hẹn. Tuy nhiên, người ta cũng nghi ngờ việc chỉnh sửa gen sẽ lại mở ra hướng đi ngược lại với ý tưởng ban đầu : Đó là việc tạo ra những siêu nhân và những đứa trẻ được « đo ni, đóng giày » dành cho những ai có đầy đủ khả năng phương tiện hưởng dịch vụ này.
Không chỉ thực hiện trên các động vật, nhiều nhà nghiên cứu đang nghĩ đến mở rộng các thí nghiệm trên tế bào người. Nhiều phòng nghiên cứu tư nhân kết hợp với các trường đại học lớn tại Hoa Kỳ để tiến hành các dự án thao tác gen người. Chẳng hạn như phòng nghiên cứu y sinh eGenesis, với sự hợp tác của đại học Havard, đặc biệt với Giáo sư David Sinclair, chuyên gia người Úc chuyên về điều trị chống lão hóa, hy vọng có thể lấy được mẫu tế bào từ buồng trứng chưa trưởng thành để nuôi cấy cho đến khi diễn ra quá trình phân bào. Tiếp đến, áp dụng kỹ thuật CRISPR trên những tế bào này để chỉnh sửa ADN của gen đột biến BRCA1, thủ phạm gây chứng ung thư buồng trứng.
Mục tiêu hiển nhiên của thí nghiệm này là để tạo ra một phôi có khả năng sống được, nhưng đã được xóa hẳn lỗi di truyền về chứng ung thư buồng trứng từ bệnh nhân. Nhưng thí nghiệm này cũng thể hiện rõ một mục đích sâu xa hơn, nhóm nghiên cứu muốn chứng minh là có khả năng « tạo ra những đứa trẻ » không mang gen đặc biệt nào có liên quan đến một chứng bệnh bẩm sinh.
Nếu chúng ta có thể chỉnh sửa ADN ngay từ lúc noãn bào hay tinh trùng, những tế bào này rất có thể sẽ được dùng để thụ tinh trong ống nghiệm để tạo ra một phôi. Tuy nhiên, công cụ CRISPR cũng có thể giúp cho việc chỉnh sửa ADN trực tiếp ngay trên phôi người, được sản sinh ra từ thụ tinh trong ống nghiệm.
Đối với ông David Sinclair, hướng nghiên cứu này sắp mở ra một chân trời kinh doanh mới. Là đồng sáng lập doanh nghiệp OvaScience, việc tạo ra những thực thể sống có ADN được chỉnh sửa bằng CRISPR sẽ làm thay đổi thế giới. Con người sắp có thể « làm chủ được cơ thể nhân loại ».
Cha mẹ có thể chọn « thời điểm và làm thế nào để có con, cũng như tình trạng sức khỏe của những đứa trẻ sắp sinh ra ». Thậm chí, cha mẹ có thể kiến tạo đứa con tương lai của mình theo như ý muốn từ việc chọn màu tóc, màu mắt, màu da, hay trí thông minh chẳng hạn.

CRISPR-CAS9 chưa thể thực hiện trên phôi người

Đây cũng chính là những gì các nhà khoa học Trung Quốc đã cố gắng làm nhưng không thành công. Ngày 18/04/2015, các nhà sinh học trường đại học Tôn Dật Tiên, tỉnh Quảng Đông đã công bố kết quả nghiên cứu biến đổi gien đơn bội trên phôi người. Họ tìm cách xóa bỏ các đột biến gien mang mầm bệnh thiếu máu bẩm sinh có tên gọi là “thalassemia”, bằng kỹ thuật CRISPR-CAS9.
Một số dạng bệnh này có thể gây nguy hiểm đến tính mạng. Nguyên nhân là do đột biến gen tác động đến việc tạo huyết cầu tố, loại protein chủ đạo trong việc vận chuyển khí oxy có trong hồng cầu. Do đó, trong huyết cầu tố bị thiếu một chuỗi aminéamin, loại chuỗi bêta. Sự khiếm khuyết này dẫn đến cái chết của hồng cầu, cũng như thiếu hụt các tế bào máu.
Những người mắc chứng bệnh này có nước da xanh xao, hay mệt mỏi, đôi khi bị chóng mặt và bị hụt hơi. Những bệnh nhân này đôi khi cũng có thể có vấn đề về tăng trưởng, dị dạng xương, gan và lách bị phình to. Theo La Recherch, chứng bệnh này cũng không mấy hiếm tại vùng Đông Nam Á.
Trở lại với thí nghiệm của các nhà khoa học Trung Quốc, tiết lộ trên đã làm dấy lên một cuộc tranh cãi. Giới di truyền học trên toàn thế giới đồng loạt chống lại việc sử dụng công nghệ CRISPR-CAS9 trên phôi người. Thứ nhất, thí nghiệm của Trung Quốc cho thấy rõ là công cụ này vẫn chưa hoàn chỉnh để thực hiện trên tế bào người.
Trong tổng số 86 phôi người ban đầu, sau khi qua các bước phân tích và xử lý kết quả cuối cùng chỉ cho thấy có 7 phôi sống sót có chứa tế bào đã chỉnh sửa gien. Bởi vì phôi người mang một cấu trúc khảm : chúng bao gồm một số tế bào mà ADN đã được chỉnh sửa và số khác vẫn luôn mang gien có « khuyết tật », theo như giải thích của Fulvio Mavilio :
« Trên phương diện tính hiệu quả, thí nghiệm trên ở người khẳng định những gì đã được chứng minh ở những loài động vật khác. Bất chấp hiệu lực của nó, CRISPR-CAS9 vẫn chưa hoàn hảo. Ngoài vấn đề đạo đức, sự thiếu chính xác này là không thể chấp nhận để can thiệp vào những tế bào giới tính.
Ngoài rủi ro cài vào những biến đổi bên ngoài chuỗi gien được nhắm tới, người ta có dẫn đến việc tạo ra những cá thể « quái lạ », được cung cấp nhiều bộ gien đơn bội khác nhau. Hơn nữa, khó có thể đoán trước được mọi hệ quả gây ra từ việc thực hiện một hành động chỉnh sửa này ».

Các vấn đề đạo lý và xã hội

Sự việc cũng cho thấy là « ngành khoa học này vẫn chưa đủ độ chín muồi » như tuyên bố của ông David Baltimore, giải Nobel Y học năm 1975. Là người có tầm nhìn xa, nhà khoa học người Mỹ này, vài tuần sau bài đăng của Trung Quốc, ông đã có lời kêu gọi các nhà khoa học trên tờ Science « đi theo một hướng đi cẩn trọng trước khi thao tác gien đơn đội trên các tế bào chủng hệ ».
Việc áp dụng các kỹ thuật chỉnh sửa dòng chủng hệ trong y khoa rất có thể sẽ dẫn đến một biến chuyển sâu sắc cho lợi ích con người, với những hệ quả cụ thể trên phương diện tuổi thọ, bản sắc và năng suất của từng cá thể. Nhưng nó cũng đặt giới khoa học trước một thế khó xử giữa sự tiến bộ khoa học với các vấn đề đạo lý và xã hội.
Giả như những cải thiện đó chỉ là khoảng sân riêng dành cho quốc gia giàu có, thậm chí cho những người giàu nhất thì sao ? Tại Hoa Kỳ, chỉ tính riêng việc thụ tinh nhân tạo cũng đã tốn đến 20.000 đô-la. Thêm vào đó là các xét nghiệm về gen, hiến tặng trứng hay một người sinh hộ, chi phí có thể lên đến 100.000 đô-la.
Theo tờ Courrier International số ra trong tháng 3/2015, nhiều nhà khoa học tỏ ra nghi ngờ về những nghiên cứu trên, vì một lý do rất đơn giản là chúng chưa được thẩm định về mặt y học. Đối với họ, lợi ích của việc biển đổi gien dòng chủng hệ chỉ dựa trên những lập luận dối trá.
Số khác đưa ra nhiều mối quan ngại của họ như : những đứa trẻ đó bị biến thành vật thí nghiệm, cha mẹ dưới sự ảnh hưởng của quảng cáo theo thuyết ưu sinh do các bệnh viện hộ sản đưa ra. Thay đổi bộ gien đơn bội của phôi có thể sẽ dẫn đến việc áp dụng sinh sản ưu tiên những gien được cho có tính ưu việt. Điều đó có lẽ sẽ dẫn đến việc sản sinh ra những cá thể mà không có khả năng đưa ra sự đồng ý của mình.
Trước khi có CRISPR-CAS9, các nghiên cứu chỉnh sửa gien dòng chủng hệ cũng đã gặp nhiều phản đối. Bởi vì, khi thay đổi ADN của dòng chủng hệ, những chỉnh đổi đó có thể sẽ được truyền lại. Cho đến lúc này, nguyên tắc cẩn trọng và những bận tâm về đạo đức đang chiếm ưu thế. Khoảng mười mấy quốc gia, nhưng không có Hoa Kỳ đã cấm thực hiện thay đổi dòng chủng hệ. Các hiệp hội khoa học đồng kết luận là vẫn còn nhiều rủi ro về việc sử dụng phương pháp này.
Công ước về nhân quyền và y sinh học của Hội đồng Châu Âu tuyên bố là mọi hành vi can thiệp nhằm mục đích biến đổi bộ gien người sẽ là một « tội ác chống lại phẩm cách nhân loại » và nhân quyền.
Nhận thức được tầm mức và thao tác dễ dàng trên gien người, cả hai nhà đồng phát minh CRISPR-CAS9, cô Emmanuelle Charpentier và cô Jennifer Douhna cũng đã lên tiếng yêu cầu thêm thời gian thẩm định lại vấn đề đạo lý trước khi đưa ra áp dụng rộng rãi.

Để phục vụ mục đích nghiên cứu di truyền, TSI Hà Nội cũng cung cấp một số nhiều vật tư tiêu hao vô trùng sử dụng trong sinh học phân tử bao gồm đầu típ, đầu côn, ống ly tâm, ống Falcon, ống PCR, ống cryo, pipet hút,…

Thông tin liên hệ:
Công ty Cổ phần TSI Hà Nội
Hotline: 024.3943.4753 – 024.3943.4752 – 0812.035.888( Zalo/ WhatsApp)
Email: marketing@tsivn.com.vn/sales@tsivn.com.vn
Website: https://tsivn.com.vn/

1640675294_dna-tu-do-trong-huyet-tuong (1)

ADN TỰ DO TRONG HUYẾT TƯƠNG – MỘT ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU QUAN TRỌNG

1. Giới thiệu:

Việc phát hiện ADN tự do trong huyết tương/ cell-free fetal DNA (cffDNA), huyết thanh không phải là một vấn đề mới. Các cấu thành, kích thước, ứng dụng của cffDNA đã được mô tả nhiều, tuy nhiên chúng thường ẩn dưới tên các ứng dụng cụ thể, mà không được nhắc trực tiếp. Về bản chất, cffDNA được ly giải từ các tế bào, vi khuẩn, hay bản thân các virut. Thông thường, cffDNA từ huyết tương được khuyến cáo sử dụng, thay cho huyết thanh có bị nhiễm bởi ADN từ tế bào thoát ra trong quá trình đông huyết. Các kỹ thuật phát hiện phổ biến bao gồm: nested PCR, realtime PCR, digital PCR, MALDI-TOF MS, giải trình tự gene thế hệ mới. Ngoài ra, một số nhà nghiên cứu còn phát hiện mRNA để đánh giá sự biểu hiện một số gene có tính trội hoặc lặn trong một số bệnh lý nhất định, hoặc phát hiện sự nhân lên của vi khuẩn trong máu.

2. Trong phát hiện bệnh lý bẩm sinh:

Việc xét nghiệm sớm ở những gia đình có tiền sử, hoặc nguy cơ sinh con có bệnh lý di truyền bẩm sinh là rất quan trọng. Việc xét nghiệm các bất thường di truyền của thai nhi dựa vào mẫu máu mẹ còn hạn chế việc phải can thiệp chọc dò hút dịch ối lấy tế bào. Trung bình, 13% của tổng số ADN tự do trong mẫu máu người mẹ có nguồn gốc từ thai nhi, nguồn chủ yếu là tế bào trophoblasts nhau thai. Các bệnh lý di truyền thường được xét nghiệm sàng lọc bao gồm hội chứng Down (trisomy 21), hội chứng Edwards (trisomy 18), hội chứng Patau (trisomy 13). Ngoài ra trong trường hợp siêu âm thấy hình ảnh hệ sinh dục bất thường, có nguy cơ dẫn tới mơ hồ giới tính, có thể làm xét nghiệm cho nhiễm sắc thể giới tính. Trong bệnh lý huyết học truyền máu có thể làm xét nghiệm về yếu tố Rh. Thông thường trước đây, việc xét nghiệm karyotype về bất thường nhiễm sắc thể cần hút được dịch ối để nuôi cấy tế bào, tiêu tốn thời gian, và cần phải thực hiện thủ thuật. Ngày nay, việc tách cffDNA từ một lượng máu nhất định có thể cho ra nhiều chỉ số xét nghiệm hơn.

Nguồn tham khảo: https://www.acog.org/womens-health/infographics/cell-free-dna-prenatal-screening-test

3. Trong bệnh lý ung thư, bệnh máu ác tính

Việc xác định cffDNA có thể hỗ trợ bổ sung thông tin cho chẩn đoán các bệnh lý như: khối u phức tạp, bệnh lý ác tính khó phân loại dựa trên hình thái tế bào, khối u có nhiều dòng tế bào khác nhau, vị trí sinh thiết có nguy cơ cao. Ứng dụng này thường được phân loại là sinh thiết lỏng. ADN tự do trong trường hợp này đến từ các tế bào u bị ly giải, do đó cũng giới hạn việc chẩn đoán từ giai đoạn sớm, khi khối u còn nhỏ. Ngoài việc hỗ trợ phân loại đột biến liên quan tới ung thư, xét nghiệm loại này còn có thể giúp theo dõi liệu trình, ví dụ như hóa trị, xạ trị. Việc theo dõi nồng độ cffDNA liên quan tới khối u có thể bổ sung thông tin về tình trạng đáp ứng điều trị, nhất là trong trường hợp di căn, kích thước nhỏ, khó phát hiện qua chẩn đoán hình ảnh. Các loại ung thư có thể ứng dụng với kỹ thuật này bao gồm: bệnh máu ác tính (leukemia, lymphoma), tuyến giáp, trực tràng, tiền liệt tuyến, phổi, carcinoma tế bào gan. Ngoài ra, còn có thể ứng dụng theo dõi tác nhân virut như EBV trong ung thư vòm họng.

Nguồn tham khảo: Abel Jacobus Bronkhorst, Vida Ungerer, Stefan Holdenrieder. The emerging role of cell-free DNA as a molecular marker for cancer management. Biomolecular Detection and Quantification.Vol.17, 2019

4. Phát hiện ADN vi khuẩn

ADN tự do có nguồn gốc vi khuẩn có thể bao gồm trực tiếp của tác nhân nhiễm khuẩn huyết, viêm phổi, hoặc các ổ nhiễm khuẩn sâu. Phát hiện cffDNA hữu dụng trong trường hợp đã sử dụng kháng sinh kéo dài, hoặc các ổ nhiễm khuẩn sâu, vi khuẩn kỵ khí, mà việc nuôi cấy trực tiếp từ máu khó phát hiện. Một số nhà nghiên cứu còn hướng tới phát hiện gene kháng thuốc của vi khuẩn, trong trường hợp điều trị kháng sinh dai dẳng mà chưa thấy cải thiện rõ rệt. Ngoài ra, đáng lưu ý đó là hiện tượng “microbial translocation”, tức là sự xâm nhập các tiểu phần vi khuẩn từ vi hệ đường ruột đi vào máu (không phải nhiễm khuẩn huyết), liên quan tới bệnh lý miễn dịch, ví dụ như bệnh Crohn, Kawasaki, suy giảm miễn dịch… Đây là mối quan hệ hai chiều, rối loạn miễn dịch tạo điều kiện cho sự bất thường vi hệ và viêm ruột dẫn đến tiết các tiểu phần vi khuẩn vào máu. Ngược lại, các tiểu phần của vi khuẩn như Lipopolysaccharide (LPS) lại kích thích hệ miễn dịch hoạt hóa quá mức, tạo các phản ứng viêm quá mức hoặc gây suy kiệt hệ miễn dịch. Việc phát hiện, theo dõi cffDNA có thể giúp hỗ trợ theo dõi sự thay đổi cấu hình vi hệ đường ruột, theo dõi phản ứng viêm hệ thống gây bởi “microbial translocation”. Một số nhà nghiên cứu đã sử dụng probiotic hỗ trợ cân bằng vi hệ đường ruột, sau đó tiến hành theo dõi sự thay đổi cffDNA để suy ra tình trạng đáp ứng điều trị. Cách tiếp cận chủ yếu là sử dụng kỹ thuật giải trình tự gene thế hệ mới (NGS), phân tích hệ gene quần xã (metagenomics), hoặc phân tích ngân hàng gene 16S. Trong trường hợp cần phân biệt chính xác cffDNA từ vi khuẩn ly giải với trường hợp thực sự có nhiễm khuẩn huyết, có một kỹ thuật bổ sung đó là phát hiện mRNA. Chúng ta đều biết mRNA là mấu chốt trong quá trình tổng hợp protein ở tế bào sống, do đó tương đồng với bằng chứng có vi khuẩn nhân lên trong máu.

Nguồn tham khảo: Han D, Li R, Shi J, Tan P, Zhang R, Li J. Liquid biopsy for infectious diseases: a focus on microbial cell-free DNA sequencing. Theranostics. 2020;10(12):5501-5513. Published 2020 Apr 7. doi:10.7150/thno.45554

5. Các thiết bị, vật tư hỗ trợ việc thu thập mẫu huyết tương, tách ADN, và PCR:

– Máy ly tâm ống máu và túi máu Sigma: Rất nhiều các model phù hợp với nhiều quy mô từ máy ly tâm để bàn nhỏ gọn đến máy ly tâm công suất lớn để sàn:

Model Dung tích tối đa
Sigma 2-16KL 4 ống máu 100ml/

24 ống máu (16×100)

Sigma 3-16KL 4 ống máu 400ml/
48 ống máu (16×100)
Sigma 4-16KS 4 ống máu 750ml/
76 ống máu (16×100)
Sigma 6-16KS 4 ống máu 1000ml (1l)/
128 ống máu (16×100)
Sigma 8KS 6 ống máu 1500ml (1.5l)/
290 ống máu (16×100)
Sigma 8KBS 12 túi máu (12 x 750 ml)

Tham khảo thêm các dòng máy ly tâm ống máu và túi máu: tại đây

– Máy phân tách huyết tương tự động
Mang thương hiệu Delcon với xuất xứ từ Ý, máy phân tách huyết tương Gioto Monza dùng để tách các thành phần máu chất lượng cao từ máu toàn phần sau khi được ly tâm, phù hợp các các túi máu loại đỉnh & đỉnh và đỉnh & đáy theo tiêu chuẩn quốc tế ISO 3826
Gioto Monza mang những ưu điểm nổi bật:
+ Chương trình làm việc: lên tới ,
+ Bộ nhớ trong: lưu trữ lên đến 1000 file riêng biệt,
+ 5 đầu kẹp với bộ đầu hàn tích hợp bao gồm 1 bộ điều chỉnh lưu lượng tích hợp để phân tách đồng thời cho kỹ thuật tách T&B (đỉnh & đáy),
+ 4 cân tích hợp, độ chính xác giá trị: ± 3g nếu < 300g, ±1% nếu ≥ 300g,
+ Thiết kế nhỏ gọn, có thể tiêu chuẩn hóa tách các thành phần máu vào các lớp khác nhau.
+ Tự động kẹp dây túi máu và tích hợp hàn dây túi máu khi kết thúc quá trình tách thành phần máu. Hàn dây túi máu có thể cài đặt chế độ tự động hoặc thủ công
+ Các kẹp dây túi máu có 02 màu (xanh/đỏ) để hướng dẫn người dùng đưa dây túi máu vào vị trí chính xác , có chức năng chống rò rỉ chất lỏng.

Ngoài ra, TSI Hà Nội còn cung cấp các thiết bị hỗ trợ tốt cho công tác thu hoạch bảo quản huyết tương như: máy đông lạnh nhanh huyết tương (Model KPFF 48B, KPFF 24B), máy rã đông huyết tương WPFD 3/6 và các vật tư tiêu hao trong xét nghiệm PCR như ống ly tâm 15ml ( 62.554.502), ống falcol 50 ml (62.547.274), strip PCR (72.985.002),…

Để được hỗ trợ chi tiết liên hệ ngay hotline 0812.035.888
Công ty Cổ phần TSI Hà Nội rất vui khi được phục vụ quý khách

1640686214_untitled-design-1

Besremi – Thuốc mới trị bệnh đa hồng cầu đầu tiên chính thức được FDA chấp thuận

Đa hồng cầu nguyên phát là một dạng bệnh ung thư máu tiến triển chậm. Bệnh làm tăng độ nhớt của máu, hình thành cục máu đông và xuất hiện các biến chứng nếu không được điều trị kịp thời sẽ ảnh hưởng đến tính mạng. Một loại thuốc mới có tên Besremi mới đây đã chính thức được cơ quan Quản lý Thực phẩm và Dược phẩm Hoa Kỳ (FDA) phê duyệt để dùng điều trị cho người lớn mắc bệnh đa hồng cầu.

1. Khái niệm bệnh đa hồng cầu:

Đa hồng cầu nguyên phát (polycythemia vera – PV) là một loại bệnh ung thư máu hiếm gặp. Bệnh xảy ra khi tủy xương sản xuất quá nhiều tế bào máu, trong đó tế bào hồng cầu được sản xuất nhiều nhất.
Bệnh đa hồng cầu là hậu quả của việc sản xuất quá nhiều tế bào máu (đặc biệt là hồng cầu) là làm tăng độ nhớt của máu khiến máu chảy chậm, tạo điều kiện thuận lợi để hình thành cục máu đông.
Máu chảy chậm làm khả năng cung cấp oxy cho cơ thể bị giảm xuống. Cục máu đông trong lòng mạch làm tăng nguy cơ đột quỵ, tai biến mạch máu, xơ vỡ động mạch, tắc động mạch, v.v …thậm chí gây tử vong cho người bệnh.
Bệnh kéo dài còn làm tăng nguy cơ mắc các bệnh lý khác như: Bệnh bạch cầu và một số loại ung thư khác. Do đó, người bệnh cần được điều trị kịp thời, ngăn chặn nguy cơ xảy ra các biến chứng.
Bệnh đa hồng cầu nguyên phát không thể điều trị khỏi hoàn toàn nhưng có thể điều trị kịp thời để kiểm soát tình trạng bệnh. Người bệnh cần tuân thủ điều trị và tái khám đúng hẹn để ngăn ngừa tình trạng đông máu trở nên nghiêm trọng hơn.

2. Triệu chứng bệnh

Triệu chứng của đa hồng cầu nguyên phát bao gồm:

– Khó thở khi nằm xuống
– Chóng mặt
– Chảy máu hoặc bầm tím.
– Đầy bụng bên trái phía trên (do lách to)
– Đau đầu, khó tập trung
– Ngứa, đặc biệt là sau khi tắm nước ấm
– Khó thở
– Viêm tĩnh mạch
– Da xanh tái
– Mệt mỏi
– Có vấn đề về tầm nhìn (nhìn mờ hoặc nhìn đôi)
– Giảm cân ngoài ý muốn
– Suy nhược cơ thể
– Đổ nhiều mồ hôi

Khi bệnh tiến triển nặng hơn, các triệu chứng nghiêm trọng có thể xuất hiện như:

– Chảy máu nhiều từ các vết thương nhỏ
– Đau xương khớp
– Mặt đỏ
– Chảy máu ở nướu răng
– Nóng rát ở bàn tay hoặc bàn chân

3. Liệu pháp mới trị bệnh đa hồng cầu

Besremi (cordginterferon alfa-2b-njft) là loại thuốc điều trị bệnh đa hồng cầu đầu tiên được FDA chấp thuận mà bệnh nhân có thể dùng bất kể tiền sử điều trị của người bệnh. Đây là liệu pháp interferon đầu tiên được phê duyệt đặc biệt cho bệnh đa hồng cầu.
Điều trị bệnh đa hồng cầu thường bao gồm loại bỏ các tế bào máu dư thừa thông qua lấy máu tĩnh mạch, dùng thuốc để giảm số lượng tế bào máu, trong đó có besremi là một trong những loại thuốc này.
Besremi được cho là hoạt động bằng cách gắn vào một số thụ thể trong cơ thể, tạo ra phản ứng dây chuyền khiến tủy xương giảm sản xuất tế bào máu. Besremi là một loại thuốc có tác dụng kéo dài, dùng tiêm dưới da hai tuần một lần.
Nếu besremi có thể làm giảm lượng tế bào máu dư thừa và duy trì mức bình thường trong ít nhất một năm, thì tần suất dùng thuốc có thể giảm xuống còn bốn tuần một lần.

4. Lưu ý khi dùng thuốc

Besremi có thể gây tăng men gan, giảm tiểu cầu, giảm bạch cầu, đau khớp, mệt mỏi, ngứa, nhiễm trùng đường hô hấp trên, đau cơ…
Các tác dụng phụ bao gồm nhiễm trùng đường tiết niệu, trầm cảm và các cơn thiếu máu cục bộ thoáng qua (các cơn giống đột quỵ).
Các sản phẩm interferon alfa như besremi có thể gây ra hoặc làm trầm trọng thêm bệnh tâm thần kinh, tự miễn dịch, thiếu máu cục bộ (lượng máu không đủ đến một phần của cơ thể) và các bệnh truyền nhiễm, có thể dẫn đến các biến chứng nguy hiểm đến tính mạng hoặc tử vong.
Không dùng besremi cho những người bị dị ứng với thuốc, có tiền sử và/hoặc rối loạn tâm thần nặng, những người ghép tạng, bệnh tự miễn…
Do thuốc có nguy cơ gây hại cho thai nhi nên những người có thể mang thai nên thử thai trước khi sử dụng besremi.

Nếu các bạn gặp phải những triệu chứng kể trên thì cần nhanh chóng đến xét nghiệm tại bệnh viện hoặc các cơ sở y tế uy tín để kịp thời phát hiện và điều trị.
TSI Hà Nội là đơn vị cung cấp danh mục các vật tư và thiết bị phục vụ xét nghiệm chẩn đoán bao gồm: Pipet hút huyết thanh, ống cryo, ống lưu mẫu, ống lấy máu chân không, kim chích đầu ngón tay,…
Thông tin liên hệ:
Công ty Cổ phần TSI Hà Nội
Hotline: 024.3943.4753 – 024.3943.4752 – 0812.035.888( Zalo/ WhatsApp)
Email: marketing@tsivn.com.vn/sales@tsivn.com.vn
Website: https://tsivn.com.vn/

1640762829_untitled-design-2

Bệnh Amip và Thuốc kháng sinh Metronidazol điều trị nhiễm amip – Tác dụng, liều dùng và lưu ý sử dụng

Metronidazol là một kháng sinh có phổ hoạt tính rộng, là thành phần hoạt chất có trong một số biệt dược thông dụng như Flagyl®, Rodogyl®, đặc biệt tác dụng mạnh trên động vật nguyên sinh như amip. Tuy nhiên thuốc có thể tiềm ẩn nguy cơ tác dụng phụ khi dùng liều cao và kéo dài. Do đó khi dùng thuốc cần thận trọng với tác dụng phụ của thuốc.

1. Thông tin về bệnh amip:

Bệnh amip là gì?

Bệnh do amip là bệnh nhiễm đơn bào Entamoeba histolytica, bệnh gây tổn thương đặc trưng là loét ở niêm mạc đại tràng và có khả năng gây ra các ổ áp xe ở những cơ quan khác nhau (như gan, não, …).
Mọi người, mọi lứa tuổi đều có thể mắc bệnh, nhưng có tới 90% người nhiễm bệnh mà không có triệu chứng đặc trưng.
Đây là bệnh truyền nhiễm, chủ yếu do kén amip lây qua thức ăn, nước uống và xâm nhập cơ thể người qua tiêu hóa. Đặc biệt là ở các nước nhiệt đới, có thói quen ăn uống thức ăn sống (gỏi, rau sống) mà nguồn thực phẩm không đảm bảo thì có thể gây thành dịch.
Kén amip qua thức ăn, nước uống… xâm nhập vào cơ thể người. Khi tới dạ dày, do tác dụng của dịch vị dạ dày, vỏ kén bị phá vỡ và 4 nhân trong kén được giải phóng phát triển thành 4 amip nhỏ sau đó di chuyển xuống cư trú ở hồi manh tràng là nơi giàu chất dinh dưỡng, có độ pH thích hợp và có nhiều vi khuẩn cộng sinh.
Amip nhỏ thường không xâm nhập được vào thành ruột để gây bệnh mà theo phân xuống đại tràng thải ra ngoài. Một số amip nhỏ co lại thành kén và cũng được thải theo phân ra ngoài. Đây là nguy cơ lây lan amip cho người khác. Khi thành ruột bị tổn thương (do vi khuẩn khác hoặc chấn thương), amip nhỏ tấn công vào thành ruột, sinh sản tại đó và tiết ra các men tiêu protein dẫn đến hoại tử tế bào niêm mạc ruột…
Khi các vết loét gây tổn thương mạch máu thành ruột, amip có thể thâm nhập vào máu và theo dòng máu đi khắp cơ thể gây tổn thương các cơ quan khác ngoài ruột như gan, phổi, não… và có thể tạo thành các ổ áp xe, rất nguy hiểm.
Bệnh có xu hướng kéo dài và mạn tính nếu không được điều trị tích cực.

Nguồn bệnh:

– Người bệnh (cả thể cấp tính và mạn tính) và người lành mang trùng thải kén amip theo phân gây ô nhiễm thực phẩm và nước uống.
– Một số động vật như khỉ, chó, mèo, chuột, … có thể bị bệnh nhưng không thải kén ra ngoài do vậy không phải là nguồn bệnh.

Triệu chứng bệnh Do amip

– Thời gian ủ bệnh: có thể kéo dài từ 1-2 tuần cho đến 3 tháng. Bệnh khởi phát có thể từ từ hoặc cấp tính.
– Người bệnh ban đầu có biểu hiện mệt mỏi, chán ăn, chóng mặt, đau bụng, … thường không sốt hoặc sốt nhẹ.
– Thời kỳ toàn phát, bệnh biểu hiện với 3 triệu chứng chủ yếu là:
+ Đau quặn bụng
+ Mót rặn, đi ngoài “giả” (bệnh nhân mót rặn, buồn đi đại tiện nhưng lại không có phân)
+ Đi tiêu nhiều lần, phân nhầy lẫn máu

2. Dùng metronidazol trị bệnh amip như thế nào?

Phổ tác dụng và chỉ định

Metronidazol có tác dụng diệt khuẩn tốt trên các vi khuẩn kỵ khí (sinh trưởng trong môi trường không có oxy). Các vi khuẩn kị khí có mặt ở nhiều vị trí trong cơ thể người, trong đó tập trung nhiều tại khoang miệng, ống tiêu hoá,…
Ngoài ra, metronidazol cũng thể hiện tác dụng trên một số vi sinh vật nguyên sinh như trùng roi âm đạo (T. vaginalis), lỵ amip (E. histolytica), Giardia lamblia,…
Do đó, kháng sinh metronidazol thường được chỉ định để điều trị các trường hợp nhiễm khuẩn với tác nhân gây bệnh có thể từ vi khuẩn kị khí hoặc nguyên sinh bào như nhiễm khuẩn răng miệng, nhiễm khuẩn ổ bụng, nhiễm khuẩn phụ khoa,…
Metronidazol còn tác dụng trên vi khuẩn Helicobacter pylori – tác nhân gây viêm loét dạ dày tá tràng; bởi vậy có thể được là 1 lựa chọn trong phác đồ phối hợp tiệt trừ vi khuẩn HP.
Do thuốc có thể được sử dụng cho khá nhiều trường hợp nhiễm khuẩn, liều sử dụng hàng ngày của metronidazol cũng khá đa dạng, thay đổi tùy theo chỉ định.

Biệt dược chứa metronidazol và dạng bào chế

Đường tiêm truyền tĩnh mạch: Moretel® 500 mg,…
Đường uống: Flagyl® 250 mg, Rodogyl® (Spiramicin 750.000 UI + Metronidazol 125 mg), …
Đường đặt âm đạo: Neo Tergynan® (Metronidazol + Neomycin + Nystatin), …
Gel bôi nha khoa: Metrogyl Denta® (Metronidazol + Chlorhexidin),…

Lưu ý khi sử dụng metronidazol

Thận trọng khi sử dụng thuốc cho phụ nữ có thai do metronidazol có thể qua được hàng rào nhau thai. Tuy nhiên, thuốc vẫn có thể được sử dụng nếu có chỉ định phù hợp của bác sĩ điều trị.
Phụ nữ cho con bú: nồng độ metronidazol có trong sữa mẹ ở mức tương đương với nồng độ thuốc trong máu sau khi sử dụng thuốc đường toàn thân (uống, tiêm truyền). Để hạn chế lượng metronidazol trẻ bú mẹ có thể bị phơi nhiễm, không nên cho trẻ bú trong thời gian mẹ dùng thuốc. Sau khi liều metronidazole cuối cùng được sử dụng 24 giờ, có thể cho trẻ bú lại.
Tác dụng phụ thường gặp của metronidazol chủ yếu trên đường tiêu hoá: buồn nôn, nôn, chán ăn, rối loạn tiêu hoá,… Miệng có vị kim loại cũng là một triệu chứng khá phổ biến. Người bệnh có thể uống thuốc sau khi ăn để hạn chế các tác dụng không mong muốn kể trên tại đường tiêu hoá.
Không sử dụng đồ uống có cồn (bia, rượu) trong thời gian sử dụng metronidazol do nguy cơ gặp phải phản ứng nghiêm trọng kiểu disulfiram, có thể gây tử vong. Triệu chứng thường gặp của phản ứng kiểu disulfiram bao gồm nóng bừng mặt, nhịp tim nhanh, đánh trống ngực, buồn nôn, nôn,…
Nước tiểu của bệnh nhân sử dụng metronidazol có thể có màu nâu đỏ đậm. Hiện tượng này là bình thường và sẽ biến mất khi dừng thuốc.

Nhiễm amip ngoài tiêu hóa thường khó chẩn đoán hơn. Xét nghiệm phân thường âm tính và khôi phục amip thể hoạt động từ hút mủ ít được thực hiện. Nếu nghi ngờ áp xe gan amip nên sử dụng siêu âm, CT và MRI để chẩn đoán. Các kỹ thuật này có độ nhạy tương tự; tuy nhiên, không có kỹ thuật nào có thể phân biệt được chắc chắn áp xe gan do amip với áp xe gan do vi khuẩn sinh mủ khác.
Để phục vụ cho xét nghiệm và chẩn đoán y tế, TSI Hà Nội cũng cung cấp một số thiết bị & vật tư xét nghiệm bao gồm: máy xét nghiệm tự động, ống lưu mẫu nhiều dung tích,…

Thông tin liên hệ:
Công ty Cổ phần TSI Hà Nội
Hotline: 024.3943.4753 – 024.3943.4752 – 0812.035.888( Zalo/ WhatsApp)
Email: marketing@tsivn.com.vn/sales@tsivn.com.vn
Website: https://tsivn.com.vn/

1641374268_untitled-design-3

Các loại xét nghiệm sinh học phân tử trong chẩn đoán y khoa và ứng dụng

Xét nghiệm sinh học phân tử (molecular diagnosis) là một trong những phương pháp kỹ thuật xét nghiệm tân tiến đang được sử dụng phổ biến rộng rãi trong ngành y học ngày nay. Kỹ thuật này ra đời vào cuối thế kỷ XX dựa trên phương pháp khuếch đại chuỗi PCR tạo ra các phản ứng PCR để từ đó giúp nhận diện và định lượng các yếu tố nguyên nhân gây nên bệnh. Hiện phương pháp này được ứng dụng phổ biến trong chẩn đoán các bệnh lý như HIV, HBV,.. qua việc tiến hành làm HBV đo tải hệ thống tự động, HBV đo tải lượng Real-time PCR…

1. Xét nghiệm sinh học phân tử là gì?

Xét nghiệm sinh học phân tử là một thuật ngữ dùng để nói về các xét nghiệm nhằm phát hiện các chỉ thị sinh học ở mức độ phân tử như các đoạn acid nucleic, các gen hoàn chỉnh hay thậm chí là các bộ gen của vi sinh vật.
Xét nghiệm sinh học phân tử là một phản ứng tổng hợp chuỗi gen PCR, là một bước tiến nhảy vọt từ thành công của kỹ thuật nhận dạng và giải trình gen. Kỹ thuật này nhằm giúp việc xác định nguyên nhân gây bệnh được nhanh chóng và chính xác hơn để phục vụ cho quá trình điều trị được hiệu quả hơn.

Trong xét nghiệm sinh học phân tử, người ta bắt buộc phải sử dụng chứng dương và chứng âm. Chứng dương là các mẫu chứng có chứa đoạn ADN/ARN mục tiêu đã được biết trước. Chứng âm là những mẫu chứng không có đoạn ADN/ARN mục tiêu để nhằm giúp kiểm soát được quá trình nhiễm chéo khi thực hiện các phản ứng.

2. Các kỹ thuật chính trong xét nghiệm sinh học phân tử:

Xét nghiệm sinh học phân tử sử dụng 2 kỹ thuật chính đó là kỹ thuật tổng hợp PCR và kỹ thuật Real-time PCR.

Kỹ thuật tổng hợp PCR: Giúp nhận diện vi khuẩn một cách nhanh chóng dựa trên phản ứng PCR. Trong mỗi phản ứng tổng hợp PCR sẽ có khoảng 20-35 vòng, sau mỗi vòng thì DNA sẽ được khuếch đại lên theo hệ số mũ. Để có kết quả chính xác, trong kỹ thuật này cần lưu ý lấy bệnh phẩm tiến hành xét nghiệm trong nồng độ thích hợp, điều nhiệt đúng với từng giai đoạn. Trường hợp sai sót, phản ứng PCR xảy ra với hiệu suất thấp, thậm chí có thể không xảy ra dẫn đến phản ứng PCR âm tính mặc dù biểu hiện lâm sàng của bệnh nhân rất rõ. Đôi khi, vô tình để xảy ra phản ứng nhiễm chéo giữa các mẫu chứng thì sẽ có phản ứng PCR dương tính ngay cả khi biểu hiện trên lâm sàng của bệnh nhân rất mờ nhạt, không rõ ràng.

Kỹ thuật Real-time PCR: kỹ thuật này gần tương tự như kỹ thuật PCR, tuy nhiên ở đây có thêm một thiết bị ghi tín hiệu khi xả ra phản ứng tổng hợp PCR. Dựa trên việc so sánh số vòng mẫu thử và số vòng của mẫu chuẩn đạt được trong cũng một khoảng thời gian xảy ra phản ứng, từ đó sẽ tính được số vòng mẫu thử gấp bao nhiêu lần số vòng mẫu chuẩn, rồi dựa vào đó người ta tính được nồng độ DNA của mẫu thử.

3. Ứng dụng của xét nghiệm sinh học phân tử:

Các nhà khoa học ghi nhận có khoảng 4.000 bệnh hiếm gặp ở người do đột biến tại các gen đơn trong bộ mã gen di truyền; đồng thời cũng có hơn 100 loại bệnh tương đối phổ biến với tỷ lệ chừng 0,5% dân số bị mắc phải tùy theo từng cơ thể người bệnh như bệnh đái tháo đường, cao huyết áp, hen suyễn, loãng xương, một số loại bệnh ung thư… Trên thực tế đã có một số bệnh được chẩn đoán sớm bằng gen, chẩn đoán sớm bệnh tật từ trước khi trẻ được sinh ra. Vào cuối năm 1999, các nhà khoa học ở Mỹ và Hồng Kông đã nghiên cứu phát hiện ra ADN (axít deoxyribonucleic) phôi thai ở trong máu người mẹ mang thai ngay từ tuần thai thứ 7 để xác định bệnh sớm ở thai nhi. Hiện nay các cơ sở y tế có điều kiện đã sử dụng kỹ thuật xét nghiệm ADN phôi thai trong máu người mẹ để chẩn đoán trước sinh hội chứng Down, đây là một trong những loại bệnh bẩm sinh đối với trẻ sơ sinh thường hay gặp. Ở Trung Quốc cũng áp dụng kỹ thuật xét nghiệm sinh học phân tử PCR (polymerase chain reaction) để chẩn đoán trước sinh bệnh di truyền Duchenne. Tại Âu Mỹ đã ứng dụng kỹ thuật sinh học phân tử để chẩn đoán trước sinh một số bệnh khác như Beta Thalassemia, xơ nang (cystic fibrosis), hội chứng X không bền, Phenylceton niệu… Việc chẩn đoán sơ sinh cho trẻ mới được sinh ra cũng đã đạt nhiều kết quả tiến bộ bằng kỹ thuật sinh học phân tử như bệnh tăng sản tuyến thượng thận bẩm sinh, bệnh thiếu men alpha 1 antitrypsin, bệnh xơ nang…

Các kỹ thuật xét nghiệm sinh học phân tử ngoài đặc điểm cho kết quả chính xác và nhanh, chúng còn rất thuận tiện và sử dụng được nhiều loại bệnh phẩm khác nhau như: máu, phân, đờm, nước tiểu; các dịch cơ thể gồm dịch màng bụng, dịch màng phổi, tinh dịch, dịch âm đạo; nước súc miệng, nước bọt, lông, tóc…; đồng thời còn định lượng được tác nhân gây bệnh, từ đó có cơ sở tiên lượng, đánh giá được hiệu quả điều trị. Vấn đề này rất quan trọng trong điều trị các bệnh do nhiễm virút như HBV gây bệnh viêm gan virút B, HCV gây bệnh viêm gan virút C, HIV gây hội chứng suy giảm miễn dịch mắc phải AIDS.

3.1. Xét nghiệm sinh học phân tử ở HBV

Ứng dụng trong chẩn đoán HBV, người ta sử dụng các xét nghiệm sinh học phân tử để làm HBV đo tải lượng hệ thống tự động: Để giúp nhận diện vi khuẩn HBV, đồng thời xác định số lượng virus trước khi điều trị, do đó có thể theo dõi số lượng của virus trong suốt quá trình điều trị, đánh giá được sự biến động tăng giảm để có thể điều trị kịp thời.
Bệnh phẩm sử dụng: 4ml máu có chống đông EDTA hoặc 1,2ml huyết tương của người bệnh.
Kết quả xét nghiệm sẽ có sau 3 ngày.
HBV đo tải lượng Real-time PCR: Như đã nói ở trên, kỹ thuật này tương tự như PCR nhưng có thêm thiết bị tính toán về mốc thời gian xảy ra phản ứng PCR để có thể xác định được số lượng và nồng độ của mẫu thử trong giai đoạn này. Điều này có thể giúp chẩn đoán chính xác hơn về tình trạng cũng như giai đoạn của bệnh và sự phát triển của các yếu tố gây bệnh. Điều này rất có ích cho việc điều trị.
Ngoài ra để hỗ trợ chẩn đoán được chính xác còn sử dụng các kỹ thuật:
Định tính HBV bằng kỹ thuật PCR: phát hiện DNA của HBV trong máu hoặc trong tế bào gan ngay cả khi HBsAg đã biến mất. Phương pháp này có độ nhạy và có độ đặc hiệu cao.
Xác định kiểu gen HBV bằng kỹ thuật giải trình tự hoặc RFLP. HBV có 8 kiểu gen khác nhau trong đó genotype là kiểu gen liên quan khá nhiều đến tiến triển của bệnh, sự kháng thuốc và đột biến. Nghiên cứu lâm sàng cho thấy genotype C đáp ứng kém với các thuốc kháng virus nhưng lại có nguy cơ đột biến và ung thư cao hơn so với genotype B. Do đó, việc xác định kiểu gen có ý nghĩa vô cùng quan trọng trong việc chẩn đoán, điều trị cũng như tiên lượng bệnh.
Xét nghiệm sinh học phân tử còn có thể tham gia vào việc xác định khả năng kháng thuốc của bệnh nhân viêm gan B mạn tính.
Tương tự như xét nghiệm sinh học phân tử ở HBV, đối với HCV người ta cũng tiến hành định tính bằng kỹ thuật PCR, đo tải lượng virus HCV, xác định kiểu gen HCV.

3.2. Xét nghiệm sinh học phân tử ở HIV

Cũng giống như chẩn đoán HBV, để chẩn đoán HIV, trong học sử dụng sinh học phân tử để làm HIV đo tải lượng hệ thống tự động để qua đó giúp chẩn đoán định lượng số lượng virus đang có trong cơ thể rồi từ đó đưa ra chẩn đoán chính xác để có phương án điều trị tối ưu nhất đồng thời giúp tiên lượng bệnh.
Bệnh phẩm để làm xét nghiệm sinh học phân tử chẩn đoán HIV: 4ml máu chống đông EDTA hoặc 1,5ml huyết thương.
Kết quả xét nghiệm sẽ có sau 1 tuần kể từ ngày làm xét nghiệm.
Thực tế trên lâm sàng có rất nhiều các vi sinh gây bệnh khác nhau đặc biệt là các chủng mới như HIV, HCV, HCV, SARS… hay đơn giản là các chủng nấm mà nếu như chỉ dùng các phương pháp xét nghiệm vi sinh thông thường cổ điển sẽ không thể xác định hay đáp ứng chậm để có thể đưa ra một chẩn đoán chính xác kịp thời, khi đó, phương pháp xét nghiệm sinh học sẽ đưa đáp ứng được những yếu tố này, giúp chẩn đoán nhanh, chính xác và hiệu quả cho việc điều trị.
Giống như trong chẩn đoán HBV, HIV, để chẩn đoán các bệnh lý khác như viêm gan virus C, bệnh lý do nấm chlamydia, do adenovirus, dengue virus hay mycoplasma…người ta cũng sử dụng xét nghiệm sinh học phân tử với kỹ thuật tổng hợp PCR và Real-time PCR để chẩn đoán.
Xét nghiệm sinh học phân tử là một kỹ thuật xét nghiệm cao, đòi hỏi người thực hiện phải có chuyên môn nghiệp vụ cao, có kinh nghiệm , đồng thời chi phí thực hiện cũng khá tốn kém. Do đó, chỉ định xét nghiệm sinh học phân tử chỉ được đưa ra khi các phương pháp kỹ thuật xét nghiệm cổ điển không có đáp ứng, không thể đưa ra được chẩn đoán chính xác cho phía điều trị.

Để phục vụ xét nghiệm sinh học phân tử, TSI Hà Nội là đơn vị cung cấp danh mục các sản phẩm, vật tư liên quan bao gồm: đầu típ, đầu côn, dải strip PCR,…
Thông tin liên hệ:
Công ty Cổ phần TSI Hà Nội
Hotline: 024.3943.4753 – 024.3943.4752 – 0812.035.888( Zalo/ WhatsApp)
Email: marketing@tsivn.com.vn/sales@tsivn.com.vn
Website: https://tsivn.com.vn/

1641379455_untitled-design-4

Hội chứng cơn bão cytokine gây chết người trong COVID-19

Cơn bão Cytokine còn gọi là hội chứng giải phóng Cytokine, hoạt chất protein được các tế bào miễn dịch tạo ra và đóng vai trò quan trọng trong việc kích hoạt hoạt động của các tế bào miễn dịch.
Cơn bão Cytokine có thể xảy ra trong những trường hợp như: Biến chứng của một số bệnh truyền nhiễm như cúm gia cầm, thủy đậu, Ebola, …; hội chứng suy hô hấp cấp tính; biến chứng nhiễm trùng huyết; tác dụng phụ của một số thuốc kháng thể đơn dòng dùng trong điều trị ung thư (liệu pháp điều trị miễn dịch); bệnh tự miễn như viêm khớp ở người trẻ tuổi. Cơn bão Cytokine có thể dẫn đến tử vong khi các Cytokine tấn công nhiều cơ quan quan trọng trong cơ thể như phổi, gan.

1. Cytokine là gì?

Cytokine là các protein tín hiệu tạo ra từ các tế bào trong cơ thể để gửi tín hiệu đến các tế bào khác. Tất cả các tế bào miễn dịch liên lạc với nhau bằng cách gửi ra các protein tín hiệu giữa các tế bào như interleukin (IL), interferon, growth factor… đến các thụ thể (receptor) như một cách để “nói” cho các tế bào khác biết tình hình của mình (như bị viêm sưng, bị nhiễm virus, hay chuyển tín hiệu viêm sưng đến các tế bào khác). Thông qua cytokine, tất cả các tế bào trong cơ thể có thể liên lạc và hoạt động nhịp nhàng với nhau.
Khi virus hay vi khuẩn vào cơ thể chúng ta, các tế bào miễn dịch ở khắp nơi trong cơ thể, lập tức nhận biết có kẻ xâm nhập và lên tiếng báo động. Tùy vào mức độ nguy hiểm của virus hay vi khuẩn mà hệ miễn dịch gây ra phản ứng khác nhau. Ví dụ như sốt, ớn lạnh, mệt mỏi, thậm chí tổn thương đến các cơ quan khác bằng các kháng thể hay protein viêm sưng.

Chúng ta có 2 loại tế bào miễn dịch: Miễn dịch có sẵn tự nhiên (có sẵn tại chỗ gồm các tế bào bạch cầu, đại thực bào…) và miễn dịch thu được (gồm tế bào T, tế bào B, các kháng thể và tế bào miễn dịch trí nhớ qua quá trình tương tác với virus, vi khuẩn, đã học cách nhớ mặt các bệnh này).

Hệ miễn dịch có sẵn là miễn dịch phản ứng tại chỗ, nhanh, nhưng không cụ thể, không rõ ràng, không có sự lựa chọn hay trí nhớ miễn dịch. Trong khi đó miễn dịch thu được là phản ứng chậm hơn, có lựa chọn, và có trí nhớ miễn dịch thông qua tương tác kháng thể với các tế bào khác. Điểm thú vị là các tế bào miễn dịch có sẵn và thu được đều liên lạc chặt chẽ với nhau thông qua các cytokine.
Hệ thống tín hiệu cytokine nắm vai trò quan trọng trong kiểm soát tổn thương, viêm sưng và phục hồi. Ví dụ:

– Khi có một vết cắt nhẹ trên da gây chảy máu, các tế bào tiểu cầu tụ tập chỗ vết thương, tiết ra các tín hiệu interleukin gọi các tế bào bạch cầu gần đó tụ lại giúp. Khi đó vi khuẩn có sẵn trên da nhân cơ hội lẻn vào bên trong cơ thể, các tế bào đại thực bào (hệ miễn dịch có sẵn), nhờ các tế bào khác thông báo và dẫn đường, sẽ “đánh hơi” đến nơi và diệt vi khuẩn ngay lập tức, làm vết thương sạch sẽ gọn gàng. Vài ngày sau thì vết thương lành hẳn.

Trong trường hợp bệnh nhân có hệ miễn dịch yếu như mắc đái tháo đường, các tế bào miễn dịch làm việc không hiệu quả với nhau, dẫn đến tế bào đại thực bào cần nhiều thời gian hơn để “đánh hơi” tìm ra vi khuẩn trong lúc vi khuẩn tiếp tục sinh sôi nảy nở. Trong trường hợp đó, vết thương trở nên nhiễm trùng và thành áp xe, đôi khi cần can thiệp mổ để giảm áp lực.

– Khi virus vào cơ thể, cách hệ miễn dịch phản ứng sẽ phức tạp hơn và đòi hỏi sự thông minh liên kết giữa các tế bào với nhau. Virus thường sẽ tấn công vào bên trong tế bào vì chúng cần vào bên trong của tế bào, dùng các protein sản xuất của tế bào để tiếp tục quá trình nhân đôi. Khi đó, tế bào vị nhiễm virus sẽ chết hoặc không hoạt động được. Các tế bào xung quanh tế bào đã bị nhiễm virus sẽ nhận ra tế bào này, gửi ra các tín hiệu interleukin đến các tế bào bạch cầu đến tấn công và dọn sạch tế bào đã bị nhiễm virus.

2. Hội chứng cơn bão cytokine diễn ra như thế nào?

Trong cơ thể người, cytokine là một nhóm protein đa chức năng, được sản xuất bởi các tế bào miễn dịch giúp cơ thể vận hành hệ miễn dịch. Để bảo vệ cơ thể khỏi các tác nhân xâm nhập gây viêm nhiễm trùng, hệ miễn dịch sử dụng nhiều tế bào khác nhau cùng hoạt động. Trong đó, cytokine được tạo ra từ nhiều loại tế bào khác nhau của hệ miễn dịch như:
– Tế bào lympho T và B
– Tế bào bạch cầu đơn nhân
– Tế bào bạch cầu ưa acid
Hội chứng cơn bão cytokine xảy ra khi một tác nhân xâm nhập vào cơ thể, hệ miễn dịch được kích hoạt để giúp chống lại tác nhân, mầm bệnh đó bằng cách sử dụng nhiều loại tế bào khác nhau với một số lượng lớn (phản ứng quá mức) bao gồm tế bào bạch cầu, tế bào lympho T và B, đại thực bào, tế bào sát thủ tự nhiên, bạch cầu đơn nhân, tế bào tua, làm giải phóng các cytokine gây viêm. Các cytokine sẽ gửi tín hiệu đến các tế bào miễn dịch và từ đó sẽ kích hoạt sản xuất thêm nhiều tế bào bạch cầu khác cũng như kích hoạt các tế bào tiếp tục tạo ra nhiều cytokine hơn.

3. Đặc trưng của hội chứng cơn bão cytokine là gì?

Trên lâm sàng, hội chứng cơn bão cytokine có đặc trưng là sốt, ngoài ra còn có các biểu hiện như:
Tim đập nhanh
Tụt huyết áp
Co giật
Nhức đầu
Rối loạn chức năng của nhiều cơ quan
Các biểu hiện cận lâm sàng trên bệnh nhân hội chứng cơn bão cytokine cho thấy:
Nồng độ oxy trong máu giảm xuống thấp
Huyết áp mở rộng
Tăng cung lượng tim giai đoạn sớm và cung lượng tim có khả năng giảm giai đoạn muộn
Nồng độ nitơ trong máu tăng cao
Tăng D-dimer
Tăng transaminase
Thiếu yếu tố bổ thể I
Chảy máu không kiểm soát
Tăng bilirubin bất thường

4. Hội chứng cơn bão cytokine ở bệnh nhân Covid – 19

Trên bệnh nhân Covid-19, khi virus xâm nhập vào tế bào, chúng sẽ nhanh chóng tự nhân bản và kích hoạt các tế bào miễn dịch gửi tín hiệu cho cơ thể để chiến đấu với virus.

Trong đó, có những bệnh nhân với hệ miễn dịch khỏe mạnh đã bảo vệ cơ thể khỏi virus mà không làm xuất hiện các triệu chứng như sốt nhẹ hoặc ho, mặc dù những bệnh nhân này vẫn có khả năng lây truyền virus cho người khác.

Trong một số trường hợp khác, hội chứng cơn bão cytokine ở bệnh nhân Covid-19 khiến hệ miễn dịch phải phản ứng liên tục và kéo dài, ngay khi virus đã không còn khả năng đe dọa. Lúc đó, việc giải phóng quá nhiều cytokine sẽ nhanh chóng đẩy cơ thể vào tình trạng bị kiệt sức.

Những cytokine này tấn công vào phổi và làm phá vỡ các mô phổi. Khi đó, những túi khí nhỏ chứa chất lỏng trong mô phổi bị rò rỉ sẽ gây ra viêm phổi và làm thiếu hụt oxy trong máu. Khi phổi bị tổn thương nặng và gây ra hội chứng suy hô hấp cấp tính, các cơ quan khác bắt đầu bị ảnh hưởng và dẫn đến tình trạng suy đa tạng. Nếu không được điều trị, hội chứng bão cytokine ở bệnh nhân Covid – 19 có thể gây tử vong.

5. Cách chẩn đoán bão cytokine

Chẩn đoán gồm bệnh sử COVID-19, triệu chứng lâm sàng, hình ảnh, và xét nghiệm lab. Bệnh nhân COVID-19 có bão cytokine thường ở khoa ICU, thường trong tình trạng nặng như thở máy và các triệu chứng như mê man, sốt, thiếu oxy. Hình ảnh chụp CT thường cho thấy viêm sưng phù phổi. Trong đó, xét nghiệm lab được xem là chìa khóa để chẩn đoán bão cytokine.

6. Chữa trị bão cytokine bằng cách nào?

Cơn bão cytokine là mức phản ứng cao nhất và cuối cùng của hệ miễn dịch. Lúc này hệ miễn dịch đã không còn được kiểm soát, có thể ví như “tổ ong đã bị vỡ”. Các tế bào miễn dịch tấn công lung tung trong lúc cơ thể ngày càng yếu đi vì toàn bộ năng lượng tập trung vào việc sản sinh tế bào miễn dịch và chống virus. Các cơ quan quan trọng như não hay tim cũng bắt đầu yếu dần do cơ thể tập trung vào chiến đấu với virus.
Các thuốc kháng và ức chế hệ miễn dịch như kháng IL-6 (tocilizumab, actemra – là thuốc chữa viêm thấp khớp và viêm mạch máu) đã được FDA phê chuẩn sử dụng khẩn cấp trong COVID-19. Các thuốc ức chế hệ miễn dịch như steroid cũng có thể giúp kiềm chế cơn bão cytokine.
Vì vậy, điều trị ngăn ngừa bệnh nhân COVID-19 vào giai đoạn bão cytokine là mục tiêu chữa trị hàng đầu khi bệnh nhân đã bắt đầu vào ICU, vì một khi bệnh nhận đã vào giai đoạn này thì tiên lượng rất xấu.

Để phục vụ xét nghiệm chẩn đoán, TSI Hà Nội là đơn vị cung cấp danh mục các sản phẩm, vật tư liên quan bao gồm: pipet hút huyết thanh, ống lưu mẫu, ống lấy máu chân không, kim chích máu đầu ngón tay,…
Thông tin liên hệ:
Công ty Cổ phần TSI Hà Nội
Hotline: 024.3943.4753 – 024.3943.4752 – 0812.035.888( Zalo/ WhatsApp)
Email: marketing@tsivn.com.vn/sales@tsivn.com.vn
Website: https://tsivn.com.vn/

1642128683_untitled-design

Ứng dụng của huyết tương giàu tiểu cầu PRP và cách lựa chọn máy ly tâm tách máu phù hợp

1. Giới thiệu chung về Huyết tương giàu tiểu cầu PRP (Platelet Rich Plasma)

a. Định nghĩa:

PRP (Platelet rich plasma) được người dùng hiểu theo nghĩa là huyết tương giàu tiểu cầu.Ngoài ra, PRP còn có thể được định nghĩa là một khối lượng huyết tương của máu tự thân có nồng độ tiểu cầu cao.
Đa phần, lượng tiểu cầu có trong máu ở trạng thái sinh lý bình thường là khoảng hơn 150 triệu – 400 triệu/ml (Ngưỡng – Baseline). do vậy, PRP phải có nồng độ tiểu cầu cao hơn ngưỡng này từ 2, 3 cho đến 9 lần. PRP thường sẽ được điều chế từ một thể tích máu tự thân bằng cách sử dụng kỹ thuật xử lý máu ngoại vi hữu hình như gạn tiểu cầu / lọc tiểu cầu, và phương pháp hàng đầu được thực hiện là sử dụng máy ly tâm.

Hơn hết, PRP còn là sản phẩm có chất lượng có tính biến thiên. Chất lượng PRP thông thường sẽ phụ thuộc vào số lượng tiểu cầu thu được cũng như nồng độ các yếu tố tăng trưởng được sản sinh ra từ tiểu cầu cho đến khi được kích hoạt.

b. Nguồn gốc của huyết tương giàu tiểu cầu PRP:

PRP được chiết tách, phân lập từ chính máu của người điều trị:
Lấy khoảng 30ml máu, sau đó đem đi quay ly tâm, sẽ thu được huyết tương chứa lượng tiểu cầu gấp 2-7 lần bình thường, và đây chính là huyết tương giàu tiểu cầu (PRP).
Sau đó, lượng PRP này sẽ được đưa vào vùng cần điều trị, giúp kích thích tăng sinh tế bào mới và hồi phục các mô bị tổn thương.

c. Cấu tạo, chức năng của tiểu cầu và hạt α:

Tiểu cầu là các phân mảnh của mẫu tiểu cầu (megakaryocyte), một loại tế bào bạch cầu sinh ra ở tủy xương. Tiểu cầu là tế bào nhỏ nhất trong các tế bào máu, có hình tròn hoặc hình bầu dục với đường kính xấp xỉ 2 μm (1,2- 2,3 μm).

Tiểu cầu trú ngụ trong các mạch máu và có nồng độ cao trong lách. Bình thường số lượng tiểu cầu trong máu từ 140.000 đến 400.000/mm (μl). Đời sống trung bình của tiểu cầu là 10 ngày trước khi bị thực bào bởi các đại thực bào của hệ thống lưới nội mô.
Về cấu tạo, bên trong tiểu cầu là một siêu cấu trúc phức tạp, chủ yếu gồm một hệ thống vi quản ở ngoại vi, hệ thống ống dày đặc, ti lạp thể, nhiều hạt (alpha- a, delta- δ, lambda- δ) và hệ thống các kênh mở.

Trong tiểu cầu, hạt a có số lượng từ 50 đến 80 hạt và hình thành trong quá trình trưởng thành của mẫu tiểu cầu. Hạt có đường kính khoảng 200- 500 nm, được bao quanh bởi một lớp màng và chứa khoảng 30 loại protein có hoạt tính sinh học khác nhau, trong đó có thể kể đến các protein như yếu tố 4 tiểu cầu, yếu tố von Willebrand, fibrinogen, thrombospondin, protein S, yếu tố XIII…là những yếu tố quan trọng tham gia vào quá trình đông cầm máu của tiểu cầu. Hạt cũng chứa rất nhiều các protein bao gồm nhiều yếu tố tăng trưởng có chức năng quan trọng trong quá trình làm lành vết thương.

Chức năng của tiểu cầu: Tiểu cầu có chức năng chính là tham gia vào quá trình đông- cầm máu và khởi đầu quá trình làm lành vết thương

d. Quá trình làm lành vết thương của huyết tương giàu tiểu cầu PRP:

Quá trình làm lành vết thương được chia làm 3 giai đoạn chồng chéo nhau:
Giai đoạn viêm (inflammation), Giai đoạn tăng sinh (proliferation) và Giai đoạn sửa chữa, tái tạo tổ chức (remodel).

Giai đoạn viêm: Đáp ứng đầu tiên khi xảy ra tổn thương ở mô là quá trình viêm. Khi máu thoát khỏi thành mạch bị tổn thương, tiểu cầu tham gia thực hiện chức năng cầm máu dẫn đến hình thành cục máu đông làm đầy tổn thương. Lúc này tiểu cầu đã được hoạt hóa cùng với nhiều tế bào (TB) khác nhau và hạt α của tiểu cầu giải phóng các yếu tố tăng trưởng và các cytokine. Quá trình này hấp dẫn các TB di chuyển tập trung đến nơi tổn thương, tăng sinh, biệt hóa và tổng hợp các chất căn bản.

Bạch cầu đa nhân trung tính là những TB viêm đầu tiên xâm nhập vào vị trí vết thương, hình thành sự bảo vệ chống lại quá trình nhiễm trùng cũng như loại bỏ các mô hoại tử. Đời sống của chúng ngắn, từ vài giờ đến vài ngày.

Tiếp theo là các TB đơn nhân và TB lympho T: TB đơn nhân biệt hóa thành đại thực bào đóng vai trò chính hỗ trợ các TB đa nhân trung tính thực hiện chức năng cũng như bản thân nó giải phóng ra các yếu tố tác động trực tiếp đến quá trình viêm. Đời sống của các TB đơn nhân và lympho kéo dài từ nhiều ngày đến nhiều tháng.

Sau đó các TB gốc nguồn gốc trung mô di chuyển tới khu vực tổn thương, nơi chúng sẽ biệt hóa thành các TB đặc hiệu tương ứng với mô tổn thương như TB xương, sụn, xơ, các TB mạch máu và mô khác. Các nguyên bào sợi cũng di cư tới, tăng sinh và sản xuất ra môi trường ngoại bào. TB biểu mô mạch máu cạnh mô tổn thương cũng tăng sinh, hình thành mạng lưới mao mạch tân tạo hướng về khu vực thương tổn, khởi động quá trình tăng sinh mạch máu.

Gần về cuối giai đoạn viêm, tổ chức hạt mới hình thành, có màu hồng với đặc điểm là mô giàu mạch máu, nhiều TB xơ, TB viêm mạn tính nhưng không có tổ chức thần kinh. Đây là môi trường chuyển hóa thuận lợi cho quá trình sửa chữa mô tổn thương.

Giai đoạn tăng sinh: các mô hoại tử dần bị loại bỏ bởi quá trình trên và được thay thế bởi mô sống tương tự với mô trước khi bị tổn thương. Các nhân tố tại chỗ, bao gồm các yếu tố tăng trưởng nguồn gốc tiểu cầu, cytokine, hocmon, chất dinh dưỡng, pH môi trường, áp lực khí oxy, môi trường điện- hóa học… thúc đẩy quá trình tăng sinh và biệt hóa các TB gốc nguồn gốc trung mô thành các nguyên bào xương, nguyên bào sụn, nguyên bào sợi và các TB khác cần cho sự tái tạo mô tương ứng.

– Giai đoạn sửa chữa, tái tạo tổ chức: mô mới được tái tạo sẽ thay đổi hình dạng và cấu trúc cho giống với mô gốc. Tại đây mật độ các tế bào và mạch máu tăng lên, các TB sợi collagen, TB xương… tăng trưởng. Thời gian của giai đoạn sửa chữa, tái tạo có thể kéo dài nhiều năm.

2. Vai trò, tác dụng, ứng dụng và ưu điểm của huyết tương giàu tiểu cầu PRP:

a. Vai trò của huyết tương giàu tiểu cầu trong quá trình làm lành, sửa chữa vết thương

Khi tiểu cầu được hoạt hóa sẽ dẫn đến quá trình ly giải các hạt α của tiểu cầu, từ đó giải phóng ra nhiều loại protein có vai trò quan trọng đối với quá trình làm lành vết thương hay tổn thương.

Một số protein quan trọng
– Platelet-derived growth factor (PDGF- αα, ββ, αβ): yếu tố tăng trưởng có nguồn gốc từ tiểu cầucó tác dụng hóa ứng động đối với đại thực bào- thu hút đại thực bào tới nơi tổn thương; phối hợp PDGF với TGF-β, IGF có tác dụng thúc đẩy tăng trưởng mạch máu, phân chia TB, hình thành da, chất căn bản xương, tổng hợp collagen.
– Transforming growth-factor-beta (TGF-β: β1, β2): yếu tố tăng trưởng chuyển dạng beta có tác dụng thúc đẩy các TB gốc nguồn gốc trung mô (sụn, xương, cơ, sợi….) và các nguyên bào xương… phân bào; thúc đẩy quá trình khoáng hóa của xương (khi phối hợp với PDGF). Các yếu tố tăng trưởng TGF-β còn phối hợp với IGF-1 và BMPs tham gia vào quá trình tổng hợp chất căn bản của sụn khớp [23].
– Vascular endothelial growth factor (VEGF): yếu tố tăng trưởng nội mạc mạch máu,thúc đẩy hình thành mạch máu.
– Epidermal growth factor (EGF): yếu tố tăng trưởng biểu bì, thúc đẩy tăng trưởng tế bào và sự biệt hóa, hình thành mạch máu, hình thành collagen.
– PDEGF (platelet-derivedendothelial growth factor): yếu tố tăng trưởng nội mô nguồn gốc tiểu cầu.
– PDAF (platelet-derived angiogenesis factor): yếu tố tăng sinh mạch nguồn gốc tiểu cầu.
– ECGF (epithelial cell growth factor): yếu tố tăng trưởng tế bào biểu mô.
– Fibroblast growth factor-2 (FGF-2): yếu tố tăng trưởng nguyên bào sợi-2,thúc đẩy tăng trưởng của các TB biệt hóa và hình thành mạch máu.
– Insulin-like growth factor (IGF): yếu tố tăng trưởng giống Insulin, một điều tiết sinh lý học bình thường trong gần như mọi loại tế bào của cơ thể. IGF-1 còn phối hợp với các yếu tố tăng trưởng TGF-β và BMPs tham gia vào quá trình tổng hợp chất căn bản của sụn khớp.
Các yếu tố khác do tiểu cầu sinh ra như PF 4 (Platelet factor 4): yếu tố 4 tiểu cầu; Osteocalcin; Osteonectin; Fibrinogen, Vitronectin; Fibronectin; TSP-1: thrombospondin-1… và nhiều chất khác; trong đó nhóm các chất Fibrinogen, Fibronectin, Vitronectin và TSP-1 tham gia vào quá trình hình thành cục máu đông.

b. Tác dụng của huyết tương giàu tiểu cầu PRP:

– Huyết tương giàu tiểu cầu kích thích tăng trưởng tế bào, sản xuất collagen:
– Kích thích tăng sinh nguyên bào sợi, điều hòa việc sản xuất collagen
– Kích thích tái tạo tế bào máu và hình thành mạch máu
– Giúp tăng sinh tế bào biểu mô và phân chia tế bào
– Bảo vệ tế bào chống lại tia UV
– Giảm sưng viêm
– Giải phóng các yếu tố dinh dưỡng giúp tái tạo và làm lành vết thương, trẻ hóa da một cách nhanh chóng.

c. Ứng dụng của huyết tương giàu tiểu cầu PRP trong điều trị:

Ứng dụng trong xương khớp

Tiểu cầu là nguồn dồi dào các yếu tố tăng trưởng, trong đó yếu tố IGF liên quan đến sự hình thành và phát triển của xương. Huyết tương giàu tiểu cầu sau khi được tiêm vào vùng điều trị giúp giảm đau, viêm, giúp hồi phục các mô tổn thương và kích thích tái tạo mô mới một cách nhanh chóng, từ đó hỗ trợ các bệnh nhân bị thoái hóa khớp, viêm xương khớp,… Điều trị đau bằng Huyết tương giàu tiểu cầu PRP đã giúp rút ngắn thời gian và giảm thiểu chi phí điều trị so với phương pháp thay khớp như trước đây.

Ứng dụng trong nha khoa

Ban đầu, phương pháp PRP được ứng dụng hạn chế trong ung thư tái tạo hàm. Sau đó, nó đã được sử dụng rộng rãi hơn trong lĩnh vực nha khoa vì tính an toàn, hiệu quả. Khi sử dụng PRP cho các bệnh nhân nha khoa, các chứng bệnh viêm, bệnh về nướu đã được cải thiện đáng kể.

Ứng dụng trong thẩm mỹ làn da

Trẻ hóa da bằng PRP ngày càng nổi tiếng trong lĩnh vực thẩm mỹ. Nó được ứng dụng chủ yếu trong điều trị các vấn đề về da. Các yếu tố tăng trưởng trong tiểu cầu khi được đưa vào da sẽ kích thích tăng sinh collagen và hình thành các mạch máu mới giúp trẻ hóa da, giảm hình thành nếp nhăn, trị sẹo rỗ, bảo vệ da khỏi các tác nhân gây oxy hóa,…

Ứng dụng trong điều trị rụng tóc – hói đầu

Với khả năng kích thích tăng sinh nguyên bào sợi, sản sinh collagen, keratin, thúc đẩy sự phát triển của các nang tóc, PRP đã tạo được bước đột phá trong điều trị chứng rụng tóc, hói đầu. Sau khi tiêm PRP vào vùng da đầu cần điều trị, kết quả cho thấy chứng rụng tóc và hói đầu của bệnh nhân đã cải thiện rõ rệt.
Không chỉ dừng lại ở các mảng kể trên, PRP đã và đang được nghiên cứu để áp dụng trong đa dạng các lĩnh vực, mang lại những liệu trình trị liệu tối ưu với chi phí hợp lý cho người bệnh.

d. Ưu điểm của phương pháp huyết tương giàu tiểu cầu:

Phương pháp PRP được nhiều chuyên gia đánh giá là an toàn, hiệu quả. Nó được ứng dụng ngày càng rộng rãi trong các lĩnh vực từ y khoa tới thẩm mỹ với các ưu điểm vượt trội sau đây:
– Phương pháp PRP sử dụng máu tự thân nên rất an toàn, không gây kích ứng, dị ứng sau khi điều trị.
– Quy trình hiện đại, vô trùng tuyệt đối.
– Không mất nhiều thời gian nghỉ dưỡng.
– Không ảnh hưởng tới sinh hoạt thường ngày.
– Không gây đau đớn.
– Quy trình đơn giản, nhanh chóng.

3. Cách lựa chọn máy ly tâm tách máu phù hợp:

Các tiêu chí để lựa chọn một máy ly tâm phân tách máu phù hợp:
Tốc độ ly tâm: Trong suốt quy trình tách huyết tương giàu tiểu cầu không cần ly tâm với tốc độ quá lớn. Toàn bộ quy trình thường sử dụng tốc độ dưới 5000 vòng/phút. Người dùng nên lựa chọn máy có tốc độ G, để có thể sử dụng quy trình chuẩn nhất cho quá trình tách.
Nhiệt độ ly tâm: Đa phần, việc tách huyết thanh hay protein và các nhân tố tăng trưởng khác cần phải được thực hiện ở nhiệt độ lạnh để có thể bảo quản các mẫu luôn được tốt nhất. Tuy nhiên việc chuẩn bị và sử dụng PRP ngay sau khi hút máu từ bệnh nhân. Do đó, người dùng có thể sử dụng máy ly tâm không cần kiểm soát nhiệt độ.
Kiểu rotor dùng cho ly tâm: Việc sử dụng các rotor văng ngang mẫu PRP sau khi tách sẽ sạch hơn.
Công suất chứa mẫu của máy ly tâm tách máu: Giả sử như đơn vị bận rộn và có rất nhiều mẫu thì nên sử dụng máy ly tâm công suất lớn. Nhưng xét về cơ bản, ta nên thực hiện ly tâm được khoảng 8 ống 15ml, vì mỗi bệnh nhân đã phải thực hiện được khoảng 3-4 ống máu.

Để phục vụ việc ly tâm máu tại các cơ sở y tế và bệnh viện, TSI Hà Nội là đơn vị cung cấp danh mục đa dạng các máy ly tâm với nhiều mức công suất khác nhau: máy ly tâm ống máu và máy ly tâm túi máu.
Link chi tiết: https://tsivn.com.vn/sigma-zentrifugen-2-1-361104.html

Thông tin liên hệ:
Công ty Cổ phần TSI Hà Nội
Hotline: 024.3943.4753 – 024.3943.4752 – 0812.035.888( Zalo/ WhatsApp)
Email: marketing@tsivn.com.vn/sales@tsivn.com.vn
Website: https://tsivn.com.vn/