bao-quan-mau

Chế Phẩm Máu Và Cách Bảo Quản Máu

Hiến máu cứu người là một nghĩa cử cao đẹp. Máu là một dược phẩm quý hiếm mà chưa có sản phẩm thay thế. Máu và các chế phẩm máu đều có thời hạn sử dụng nhất định. Chính vì thế cần sử dụng máu và chế phẩm máu hợp lý, an toàn, hiệu quả cũng như cần bảo quản máu và các chế phẩm máu đúng quy cách, tránh lãng phí.

Cách bảo quản máu

Nguồn: Sưu tầm

Việc truyền máu và chế phẩm máu là nhằm mục đích chữa bệnh. Vì vậy, máu và các chế phẩm máu phải được sử dụng đúng bệnh nhân, truyền đúng loại và đúng thời điểm thích hợp.

Chế phẩm máu và cách bảo quản

Máu sau khi được lấy từ người hiến sẽ được chuyển về Ngân hàng máu. Tất cả các đơn vị máu đều được thực hiện các xét nghiệm sang lọc, xét nghiệm về nhóm máu và điều chế thành các chế phẩm máu. Xét nghiệm sàng lọc các loại vi – rút, vi trùng, ký sinh trùng lây qua đường truyền máu (như viêm gan B, C, HIV, HTLV, giang mai, sốt rét), kháng thể bất thường để loại bỏ các túi máu có mầm bệnh.

Trong máu có các thành phần: các loại tế bào (hồng cầu, bạch cầu, tiểu cầu) và huyết tương (bao gồm các loại protein huyết tương, các albumin, các yếu tố đông máu, các Vitamin, các globulin miễn dịch…).

Túi máu toàn phần sau khi tiếp nhận từ người hiến máu tình nguyện sẽ được đưa vào hệ thống để điều chế và tách chiết ra các “chế phẩm máu”. Mỗi chế phẩm máu sẽ có tiêu chuẩn chất lượng, điều kiện bảo quản và thời gian sử dụng riêng phù hợp với chức năng điều trị bệnh của từng loại chế phẩm máu. Tùy nhu cầu của mỗi bệnh nhân mà bác sĩ điều trị có chỉ định sử dụng các chế phẩm phụ hợp theo nguyên tắc thiếu thành phần nào truyền thành phần máu đó.

cách bảo quản máuNguồn: Sưu tầm

Máu toàn phần

Máu toàn phần là máu lấy từ mạch máu người hiến, được bảo quản trong túi (chai) có chất chống đông và bảo quản máu. Máu toàn phần được bảo quản ở nhiệt độ 2 – 6oC, thời gian bảo quản tối đa trong 42 ngày.

Máu toàn phần được sử dụng trong trường hợp bệnh nhân mất nhiều máu (mất ≥ 1/3 lượng máu cơ thể). Không nên dùng máu toàn phần với bệnh nhân suy thận, suy tim, chỉ thiếu máu đơn thuần.[1]

máu toàn phần

Nguồn: Sưu tầm

Khối hồng cầu

Hồng cầu là thành phần được thu từ quá trình ly tâm máu toàn phần vách tách phần huyết tương phía trên sang 1 túi khác. Tùy vào cách sản xuất mà có các loại khối hồng cầu khác nhau.

Khối hồng cầu đậm đặc

Thành phần của khối hồng cầu đậm đặc bao gồm hồng cầu, bạch cầu, một ít huyết tương. Nhiệt độ bảo quản khối hồng cầu đậm đặc là 2 – 6oC, thời hạn sử dụng thường là 35 ngày. Nếu thêm chất nuôi dưỡng, hồng cầu có thể bảo quản tối đa trong 42 ngày.

Khối hồng cầu đậm đặc được chỉ định dùng trong các trường hợp thiếu máu. Chính vì đậm đặc nên khi truyền khối hồng cầu đậm đặc cho bệnh nhân, tốc độ truyền chậm. Khối hồng cầu đậm đặc chứa nhiều bạch cầu có thể gây phản ứng truyền máu, gây tan máu sớm. Huyết tương chứa kháng thể cũng là một bất lợi, có thể coi như kháng nguyên lạ khi đi vào cơ thể người được truyền máu.

Khối hồng cầu có dung dịch bảo quản

Khối máu hồng cầu có dung dịch bảo quản được thu từ máu toàn phần sau khi ly tâm, tách huyết tương khỏi hồng cầu và được trả lại dung dịch bảo quản. Khối hồng cầu có dung dịch bảo quản được bảo quản trong điều kiện nhiệt độ 2 – 6oC, thời gian tối đa 42 ngày. Được chỉ định sử dụng trong các trường hợp thiếu máu do suy thận, suy tim…

Khối hồng cầu nghèo bạch cầu

Khối hồng cầu nghèo bạch cầu bao gồm hồng cầu và bạch cầu đã được loại bỏ hầu hết, chỉ còn lại khoảng 10% so với khối hồng cầu thông thường. Do đó, khối hồng cầu nghèo bạch cầu có ưu điểm là giảm các phản ứng do bạch cầu, giảm nguy cơ gây bệnh từ các tác nhân có trong bạch cầu. Khối hồng cầu nghèo bạch cầu được chỉ định trong trường hợp thiếu máu đơn thuần.

Khối hồng cầu rửa

Khối hồng cầu rửa được thu từ quá trình máu toàn phần hoặc khối hồng cầu được ly tâm bỏ hết huyết tương rồi thay thế nước muối, trộng đều và ly tâm để rửa 3 lần. Thành phần của khối hồng cầu rửa bao gồm hồng cầu và nước muối. Khối hồng cầu rửa được bảo quản ở nhiệt độ 2 – 6oC trong thời gian tối đa 24 giờ. Ở nhiệt độ 22oC, có thể bảo quản tối đa khối hồng cầu rửa trong 6 giờ. Khối hồng cầu rửa được chỉ định truyền cho bệnh nhân thiếu máu, tan máu tự miễn.

Khối hồng cầu lọc bạch cầu và khối hồng cầu chiếu xạ

Khối hồng cầu lọc bạch cầu và khối hồng cầu chiếu xạ là khối hồng cầu đã được lọc bạch cầu hay tia xạ (bất hoạt bạch cầu), hoặc cả hai. Trong điều kiện bảo quản ở nhiệt độ 2 – 6oC, chế phẩm máu này có thể bảo quản tối đa 2 tuần kể từ khi chiếu xạ; nếu dùng mạng lọc rời (hở), bảo quản tối đa 24 giờ sau lọc. Chế phẩm máu này được chỉ định sử dụng cho bệnh nhân thiếu máu có giảm nặng miễn dịch, đặc biệt bệnh nhân ghép tạng.

Thông thường, đối với bệnh nhân ghép tạng cần truyền máu, bác sĩ sẽ sử dụng đơn vị máu đồng thời được chiếu xạ và lọc bạch cầu để đảm bảo an toàn cho bệnh nhân.

 

NgCác thành phần trong máuNguồn: Sưu tầm

Khối tiểu cầu

Khối tiểu cầu điều chế từ máu toàn phần hay được tách chiết trực tiếp từ người hiến máu bằng máy, được bảo quản ở 20 – 24oC trên máy lắc liên tục, và có hạn sử dụng là 5 ngày. Khối tiểu cầu được sử dụng với các bệnh gây giảm tiểu cầu nặng, đặc biệt giảm tiểu cầu sau khi điều trị bệnh ác tính như điều trị hóa chất, bệnh suy tủy, rối loạn sinh tủy, sốt xuất huyết có giảm tiểu cầu nặng.

Huyết tương tươi đông lạnh

Huyết tương tươi là huyết tương được tách ra từ máu toàn phần trong thời gian 6 giờ kể từ lúc lấy máu. Huyết tương tươi được bảo quản đông lạnh được gọi là huyết tương tươi đông lạnh. Thành phần của chế phẩm máu này bao gồm các yếu tố huyết tương (Albumin, Globulin miễn dịch), yếu tố đông máu bền vững, yếu tố VIII (còn khoảng 70%). Huyết tương tươi đông lạnh được bảo quản ở nhiệt độ âm (- 25oC) với thời hạn 1 năm; ở nhiệt độ dưới -25oC, thời gian bảo quản huyết tương tươi đông lạnh có thể đến 2 năm. Chế phẩm máu này được chỉ định sử dụng trong các trường hợp bệnh nhân cần thay thế huyết tương, bệnh nhân mắc rối loạn đông máu, mắc bệnh Hemopilia A&B, tai biến do dùng quá liều kháng vitamin K, mất máu do chấn thương, phẫu thuật và dùng để bù các thành phần và thể tích huyết tương thiếu hụt. Huyết tương cũng chứa các tác nhân lây nhiễm bệnh nên có thể dùng hóa chất hoặc tia UV để ức chế tác nhân gây bệnh.

Ngoài ra, huyết tương tươi đông lạnh để ở 4oC, huyết tương tan ra có 1 phần tủa, ly tâm tách tủa, thu được huyết tương tươi tách tủa. Phần huyết tương này được bảo quản ở điều kiện tương tụ như huyết tương tươi đông lạnh và chỉ định dùng cho bệnh nhân mất huyết tương, tai biến quá liều kháng vitamin K, mắc bệnh Hemopilia B.

Thời gian lưu trữ tối đa của các đơn vị máu hiện ở ngưỡng tương đối thấp, đặc biệt với máu hiếm và rất hiếm có số lượng hạn chế. Tuy nhiên, chi phí cho bảo quản máu với số lượng lớn, trong thời gian dài là khá cao. Các nhà khoa học Việt Nam, đang nỗ lực nghiên cứu, thử nghiệm các công nghệ bảo quản máu nhằm tăng khả năng lưu trữ máu số lượng lớn và kéo dài thời gian bảo quản máu, cung cấp đủ máu cho bệnh nhân.